NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG
-
Vẽ timeline biểu thị phân kì của lịch sử Triết học
-
Thời kỳ: HIỆN ĐẠI
> Giới thiệu tối thiểu 2 đại biểu và tóm
tắt tổng quan tư tưởng
----------------------------------------------------
TIMELINE
Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Descartes
Descartes
(1596–1650) là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được xem là
cha đẻ của triết học hiện đại. Thời niên thiếu, Descartes đã tỏ ra là người hiếu
học, ưa suy tưởng, câu hỏi tại sao luôn được ông đặt ra với các thành viên
trong gia đình và với chính bản thân mình.
Sở
dĩ Descartes được xem là cha đẻ của triết học hiện đại vì ông đã tìm cách trao
cho triết học sự chắc chắn của toán học mà không cần viện đến bất cứ loại giáo
lý hay thần quyền nào, để kiến lập một nền tảng chắc chắn, duy lý cho tri thức.
Trong
khi nhiều nhà triết học vẫn tin tưởng và bảo vệ quản điểm của họ về sự tồn tại
của các nguồn sức mạnh siêu nhiên từ thượng đế thì Descartes chỉ tin vào sức mạnh
của tư duy logic con người. Ông tin rằng bất kì điều gì không đúng diễn ra đều
do sự sai lầm trong suy nghĩ đến từ sự bối rối, định nghĩa sai lệch và sự phi
logic vô thức.
Một
trong những phương pháp suy luận rất nổi tiếng của ông đó chính là “phương pháp
nghi vấn.” Phương pháp này bắt đầu bằng việc người suy tư gạt qua một bên bất cứ
niềm tin nào có thể bị hoài nghi tính xác thực của nó, dù chỉ một ít hay toàn bộ.
Mục đích của Descartes là nhằm cho thấy rằng, ngay cả khi xuất phát từ quan điểm
hoài nghi nhất có thể, ngờ vực tất cả mọi thứ, ta vẫn có thể đạt đến tri thức.
Trong
cuốn “Phương pháp luận”-tác phẩm lớn đầu tiên của ông xuất bản năm 1637,
Descartes đã trình bày: “Tôi tư duy, thế nên tôi tồn tại”. Sau này, cũng chính
nhờ cuốn sách này, mọi người có được một ý niệm về phương pháp kiểm chứng các
điều suy luận.
Một
điều nữa khiến ông khác biệt hơn hẳn so với các nhà triết học khác đó là ông
quan niệm rằng nền tảng cho tất cả tư duy, ý tưởng của chúng ta đều dựa trên trải
nghiệm cá nhân của từng người, không phải dựa trên luật lệ hay truyền thống. Bản
thân ông cũng đã dành phần lớn thời gian thanh xuân của mình để tham gia vào rất
nhiều những cuộc chiến, bằng cách đó ông có thể đến nhiều nơi, học hỏi văn hoá,
con người ở vùng đất đó đông thời thử thách bản thân với bất kì điều gì cuộc sống
mang đến.
Descartes
đã dự nhiều trận mạc nhưng chàng không bao giờ ngừng học hỏi về Siêu Hình và
Toán Học và nếu có trường hợp nào cần áp dụng kiến thức Toán Học, chàng đều đem
ra thực hành ngay.
Descartes
đã dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu tri thức, việc áp dụng đại số vào hình học
trong tác phẩm hình học của ông đã mở đầu cho môn hình học giải tích. Tuy
nhiên, có lẽ chính sự nghiêm khắc trong tư duy của Descartes và sự phản đối của
ông với bất cứ hình thức dựa dẫm nào vào thần quyền mới là di sản quan trọng nhất
của ông.
Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Kant
Immanuel
Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Konigberg - một thành phố thuộc vùng
đông bắc nước Phổ, nay là Kaleningnad. Năm 1740, I.Kant học triết tại trường Đại
học tổng hợp Konigsberg. Tại đây, Kant có dịp làm quen với cơ học, thiên văn học,
toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như Niuton, Đề các tơ, Lép
nít, Wolff và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp. Ông nghiên cứu kỹ
năng và các hệ thống triết học của tiền nhân. Ông đặc biệt quan tâm tới các nhà
triết học Anh như Lốccơ và Hium. Ông tìm hiểu hệ thống triết học Lép nít và
nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Vônphơ . Những tư tưởng của các triết gia này có
ảnh hưởng sâu sắc trong hệ thống của triết học của ông sau này.
Sau
tốt nghiệp, trong vòng 10 năm Kant đã làm gia sư tại nhà. Việc làm này đã tạo
điều kiện vật chất cho Kant tiến hành nghiên cứu triết học. Đến năm 1770, khi
đã 46 tuổi , Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư logic học và siêu hình học của
trường Đại học Tổng hợp Konisgberg. Ở thời kì này , ông đã hoàn thành các tác
phẩm triết học cơ bản trong sự nghiệp sáng tạo của mình. Kant đã để lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc
đáo và sâu sắc . Đầu tiên triết học của ông gắn với khoa học tự nhiên và sau đó
càng ngày càng quan tâm tới những vấn đề con người, tác phẩm đầu tiên đánh dấu
sự chuyển biến đó là “Phê phán lý tính thuần túy”.
Ngày
12 tháng 2 năm 1804, Kant trút hơi thở cuối cùng với nụ cười trên môi và câu
nói “Thế là tốt rồi” ông mất ở tuổi 80 khi đang viết dở tác phẩm khác.
Mặc
dù ông ra đi nhưng ông đã để lại cho thế giới công trình tác phẩm đồ sộ với
hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như : Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê
phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán năng lực phán đoán (1790),… ngoài ra
còn rất nhiều các tác phẩm triết học khác có giá trị quan trọng trong sự nghiệp
phát triển của nền triết học thế giới nói chung.
Triết
học Kant được chia thành 2 thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán :
>
Thời kỳ tiền phê phán (1745-1769), Kant chủ yếu nghiên cứu vấn đề toán học, cơ
học, thiên văn học. Bên cạnh những quan niệm duy vật thời kỳ này tư tưởng của
ông còn xuất hiện sự bế tắc trong việc tìm kiếm và giải quyết vấn đề triết học.
Lối thoát cho sự bế tắc này được ông giải quyết trong “thời kỳ phê phán”
>
Thời kỳ phê phán (1770-1804) nếu trước đây ông lại cho rằng con người không nhận
thức được thế giới, thì bây giờ ông lại cho rằng con người không nhận thức được
thế giới – bất khả chi, trước đây ông đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín
ngưỡng. Kant đề ra nhiệm vụ cho triết học của mình là phê phán hệ thống siêu
hình học cũ, đặt ngược lại một số vấn đề mà môn khoa học này tưởng như đã giải
quyết xong, tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm vụ mà cả
cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết học mới.
Tư tưởng
về biện chứng của quá trình nhận thức
Một
trong những điểm nổi bật của nhận thức luận Kant là biện chứng về quá trình nhận
thức, thể hiện qua những luận điểm của ông về mối quan hệ giữa trực quan cảm
tính và tư duy giác tính, nghịch lý của lý tính thuần túy. Tư tưởng này đã được
Hegel tiếp thu một cách hợp lý trong "Khoa học logic" của ông và sau
này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nâng lên. Những giá trị của
nhận thức luận Kant, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về quá trình nhận thức đã
có nhiều đóng góp có giá trịcho lịch sử nhận thức nhân loại nói chung và phép
biện chứng duy vật nói riêng. Đánh giá
những giá trị to lớn và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học Kant cũng như nhận
thức luận của ông, J. Hirschberger cho rằng: "Kant được xem là triết gia Đức
lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất của thời cận đại, là triết gia của nền
văn hóa tân thời và của nhiều lĩnh vực khác nữa. Dù người ta có đánh giá Kant
gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất đẩy lùi tất cả những gì đi trước
vào bóng tối và tỏa sáng lên những gì đi sau.
Tự do thực
hành
Trong
cuốn “Phê phán lý tính thực hành”, Kant đã xét lại khái niệm “tự do” dưới góc độ
thực hành của lý tính.
Kant
định nghĩa tự do thực hành như sau:
Tự
do theo nghĩa thực hành là sự độc lập của ý chí trước sự thúc bách do các xung
động của cảm năng gây ra. […] Tự do thực hành giả định tiên quyết rằng, dù một
điều gì đó không xảy ra, nhưng nó phải được xảy ra, và vì thế, nguyên nhân của
nó ở trong thế giới hiện tượng không phải có tính quy định nghiêm ngặt đến nỗi
trong ý chí chúng ta không có một tính nhân quả nào tạo ra được một cái gì độc
lập với những nguyên nhân tự nhiên và bản thân đi ngược lại sức mạnh và ảnh hưởng
của tự nhiên, tức bị quy định bên trong trật tự thời gian theo những quy luật
thường nghiệm, do đó không thể hoàn toàn tự mình khởi đầu một chuỗi các sự kiện.
Nếu
trong lãnh vực lý trí thuần tuý, tự do siêu nghiệm chỉ có thể được suy tưởng,
chứ không được nhận thức, thì trong lãnh vực của lý trí thực hành, Kant đề cập
đến “cái phải là” như là điều thiết yếu làm cho ta có nhận thức thực sự về sự tự
do thực hành, nghĩa là con người có năng lực hoàn toàn tự mình làm nguyên nhân
cho một chuỗi sự kiện thường nghiệm.“Cái phải là” chính là quy luật thực hành
hay quy luật luân lý, đạo đức trong mỗi người. Ông khẳng định: Ai đó phán đoán
rằng mình có thể làm một việc chỉ vì có ý thức rằng mình phải làm việc ấy thì
nhận ra sự tự do nơi chính mình – một điều mà nếu không có quy luật luân lý ắt
anh ta không bao giờ nhận ra được.
Như
thế, tự do có mối liên hệ chặt chẽ với quy luật luân lý, hay quy luật đạo đức
hoặc quy luật thực hành. Thật vậy, chỉ khi có tự do, con người mới có thể chọn
lựa làm việc tốt hoặc việc xấu; mặt khác, khi thấy con người tự ý làm điều lành
điều ác người ta mới chứng nghiệm rằng con người là hữu thể tự do.
Trong
hệ thống triết học của Kant,ông dành vị trí trung tâm trong đạo đức học là vươn
tới sự tự do. Ông cho rằng không có đạo đức thì không có tự do, cũng như thiếu
tự do thì không thể có đạo đức. “Tự do và quy luật thực hành tuyệt đối liên hệ
chặt chẽ với nhau đến nỗi không thể có cái này mà không có cái kia”
Có
thể thấy, tư tưởng của Kant về tự do là một thành tựu nhân văn sâu sắc của triết
học phương Tây và nó chỉ có thể được coi là tự do nếu nó đi liền với quy luật đạo
đức.
Link ppt nhóm:
