LIFE IS A JOURNEY

I’m on the way to become the best version of me

LIFE IS A JOURNEY

I’m on the way to become the best version of me

  • Home
  • About me
  • Subject
    • Nhập môn Kiến trúc nội thất
    • Triết học
      • Mục tiêu môn học
      • Chương 1
      • Chương 2
      • Chương 3
      • Tổng kết môn học
    • Đồ án
      • Đồ án cơ sở Kiến trúc 1 - Đường nét - chữ số
      • Đồ án cơ sở Kiến trúc 2 - Vẽ mẫu nhà
    • HÌNH HỌA
      • HÌNH HỌA 1
  • Contact Me

NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG

- Vẽ timeline biểu thị phân kì của lịch sử Triết học

- Thời kỳ: HIỆN ĐẠI

   > Giới thiệu tối thiểu 2 đại biểu và tóm tắt tổng quan tư tưởng

----------------------------------------------------

TIMELINE


Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Descartes

Descartes (1596–1650) là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được xem là cha đẻ của triết học hiện đại. Thời niên thiếu, Descartes đã tỏ ra là người hiếu học, ưa suy tưởng, câu hỏi tại sao luôn được ông đặt ra với các thành viên trong gia đình và với chính bản thân mình.

Sở dĩ Descartes được xem là cha đẻ của triết học hiện đại vì ông đã tìm cách trao cho triết học sự chắc chắn của toán học mà không cần viện đến bất cứ loại giáo lý hay thần quyền nào, để kiến lập một nền tảng chắc chắn, duy lý cho tri thức.

Trong khi nhiều nhà triết học vẫn tin tưởng và bảo vệ quản điểm của họ về sự tồn tại của các nguồn sức mạnh siêu nhiên từ thượng đế thì Descartes chỉ tin vào sức mạnh của tư duy logic con người. Ông tin rằng bất kì điều gì không đúng diễn ra đều do sự sai lầm trong suy nghĩ đến từ sự bối rối, định nghĩa sai lệch và sự phi logic vô thức.

Một trong những phương pháp suy luận rất nổi tiếng của ông đó chính là “phương pháp nghi vấn.” Phương pháp này bắt đầu bằng việc người suy tư gạt qua một bên bất cứ niềm tin nào có thể bị hoài nghi tính xác thực của nó, dù chỉ một ít hay toàn bộ. Mục đích của Descartes là nhằm cho thấy rằng, ngay cả khi xuất phát từ quan điểm hoài nghi nhất có thể, ngờ vực tất cả mọi thứ, ta vẫn có thể đạt đến tri thức.

Trong cuốn “Phương pháp luận”-tác phẩm lớn đầu tiên của ông xuất bản năm 1637, Descartes đã trình bày: “Tôi tư duy, thế nên tôi tồn tại”. Sau này, cũng chính nhờ cuốn sách này, mọi người có được một ý niệm về phương pháp kiểm chứng các điều suy luận.

Một điều nữa khiến ông khác biệt hơn hẳn so với các nhà triết học khác đó là ông quan niệm rằng nền tảng cho tất cả tư duy, ý tưởng của chúng ta đều dựa trên trải nghiệm cá nhân của từng người, không phải dựa trên luật lệ hay truyền thống. Bản thân ông cũng đã dành phần lớn thời gian thanh xuân của mình để tham gia vào rất nhiều những cuộc chiến, bằng cách đó ông có thể đến nhiều nơi, học hỏi văn hoá, con người ở vùng đất đó đông thời thử thách bản thân với bất kì điều gì cuộc sống mang đến.

Descartes đã dự nhiều trận mạc nhưng chàng không bao giờ ngừng học hỏi về Siêu Hình và Toán Học và nếu có trường hợp nào cần áp dụng kiến thức Toán Học, chàng đều đem ra thực hành ngay.

Descartes đã dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu tri thức, việc áp dụng đại số vào hình học trong tác phẩm hình học của ông đã mở đầu cho môn hình học giải tích. Tuy nhiên, có lẽ chính sự nghiêm khắc trong tư duy của Descartes và sự phản đối của ông với bất cứ hình thức dựa dẫm nào vào thần quyền mới là di sản quan trọng nhất của ông.

 

Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Kant

Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Konigberg - một thành phố thuộc vùng đông bắc nước Phổ, nay là Kaleningnad. Năm 1740, I.Kant học triết tại trường Đại học tổng hợp Konigsberg. Tại đây, Kant có dịp làm quen với cơ học, thiên văn học, toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như Niuton, Đề các tơ, Lép nít, Wolff và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp. Ông nghiên cứu kỹ năng và các hệ thống triết học của tiền nhân. Ông đặc biệt quan tâm tới các nhà triết học Anh như Lốccơ và Hium. Ông tìm hiểu hệ thống triết học Lép nít và nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Vônphơ . Những tư tưởng của các triết gia này có ảnh hưởng sâu sắc trong hệ thống của triết học của ông sau này.

Sau tốt nghiệp, trong vòng 10 năm Kant đã làm gia sư tại nhà. Việc làm này đã tạo điều kiện vật chất cho Kant tiến hành nghiên cứu triết học. Đến năm 1770, khi đã 46 tuổi , Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư logic học và siêu hình học của trường Đại học Tổng hợp Konisgberg. Ở thời kì này , ông đã hoàn thành các tác phẩm triết học cơ bản trong sự nghiệp sáng tạo của mình. Kant đã để  lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc . Đầu tiên triết học của ông gắn với khoa học tự nhiên và sau đó càng ngày càng quan tâm tới những vấn đề con người, tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự chuyển biến đó là “Phê phán lý tính thuần túy”.

Ngày 12 tháng 2 năm 1804, Kant trút hơi thở cuối cùng với nụ cười trên môi và câu nói “Thế là tốt rồi” ông mất ở tuổi 80 khi đang viết dở tác phẩm khác.

Mặc dù ông ra đi nhưng ông đã để lại cho thế giới công trình tác phẩm đồ sộ với hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như : Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán năng lực phán đoán (1790),… ngoài ra còn rất nhiều các tác phẩm triết học khác có giá trị quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nền triết học thế giới nói chung.

Triết học Kant được chia thành 2 thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán :

> Thời kỳ tiền phê phán (1745-1769), Kant chủ yếu nghiên cứu vấn đề toán học, cơ học, thiên văn học. Bên cạnh những quan niệm duy vật thời kỳ này tư tưởng của ông còn xuất hiện sự bế tắc trong việc tìm kiếm và giải quyết vấn đề triết học. Lối thoát cho sự bế tắc này được ông giải quyết trong “thời kỳ phê phán”

> Thời kỳ phê phán (1770-1804) nếu trước đây ông lại cho rằng con người không nhận thức được thế giới, thì bây giờ ông lại cho rằng con người không nhận thức được thế giới – bất khả chi, trước đây ông đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín ngưỡng. Kant đề ra nhiệm vụ cho triết học của mình là phê phán hệ thống siêu hình học cũ, đặt ngược lại một số vấn đề mà môn khoa học này tưởng như đã giải quyết xong, tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết học mới.

Tư tưởng về biện chứng của quá trình nhận thức

Một trong những điểm nổi bật của nhận thức luận Kant là biện chứng về quá trình nhận thức, thể hiện qua những luận điểm của ông về mối quan hệ giữa trực quan cảm tính và tư duy giác tính, nghịch lý của lý tính thuần túy. Tư tưởng này đã được Hegel tiếp thu một cách hợp lý trong "Khoa học logic" của ông và sau này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nâng lên. Những giá trị của nhận thức luận Kant, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về quá trình nhận thức đã có nhiều đóng góp có giá trịcho lịch sử nhận thức nhân loại nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng.  Đánh giá những giá trị to lớn và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học Kant cũng như nhận thức luận của ông, J. Hirschberger cho rằng: "Kant được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất của thời cận đại, là triết gia của nền văn hóa tân thời và của nhiều lĩnh vực khác nữa. Dù người ta có đánh giá Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất đẩy lùi tất cả những gì đi trước vào bóng tối và tỏa sáng lên những gì đi sau.

Tự do thực hành

Trong cuốn “Phê phán lý tính thực hành”, Kant đã xét lại khái niệm “tự do” dưới góc độ thực hành của lý tính.

Kant định nghĩa tự do thực hành như sau:

Tự do theo nghĩa thực hành là sự độc lập của ý chí trước sự thúc bách do các xung động của cảm năng gây ra. […] Tự do thực hành giả định tiên quyết rằng, dù một điều gì đó không xảy ra, nhưng nó phải được xảy ra, và vì thế, nguyên nhân của nó ở trong thế giới hiện tượng không phải có tính quy định nghiêm ngặt đến nỗi trong ý chí chúng ta không có một tính nhân quả nào tạo ra được một cái gì độc lập với những nguyên nhân tự nhiên và bản thân đi ngược lại sức mạnh và ảnh hưởng của tự nhiên, tức bị quy định bên trong trật tự thời gian theo những quy luật thường nghiệm, do đó không thể hoàn toàn tự mình khởi đầu một chuỗi các sự kiện.

Nếu trong lãnh vực lý trí thuần tuý, tự do siêu nghiệm chỉ có thể được suy tưởng, chứ không được nhận thức, thì trong lãnh vực của lý trí thực hành, Kant đề cập đến “cái phải là” như là điều thiết yếu làm cho ta có nhận thức thực sự về sự tự do thực hành, nghĩa là con người có năng lực hoàn toàn tự mình làm nguyên nhân cho một chuỗi sự kiện thường nghiệm.“Cái phải là” chính là quy luật thực hành hay quy luật luân lý, đạo đức trong mỗi người. Ông khẳng định: Ai đó phán đoán rằng mình có thể làm một việc chỉ vì có ý thức rằng mình phải làm việc ấy thì nhận ra sự tự do nơi chính mình – một điều mà nếu không có quy luật luân lý ắt anh ta không bao giờ nhận ra được.

Như thế, tự do có mối liên hệ chặt chẽ với quy luật luân lý, hay quy luật đạo đức hoặc quy luật thực hành. Thật vậy, chỉ khi có tự do, con người mới có thể chọn lựa làm việc tốt hoặc việc xấu; mặt khác, khi thấy con người tự ý làm điều lành điều ác người ta mới chứng nghiệm rằng con người là hữu thể tự do.

Trong hệ thống triết học của Kant,ông dành vị trí trung tâm trong đạo đức học là vươn tới sự tự do. Ông cho rằng không có đạo đức thì không có tự do, cũng như thiếu tự do thì không thể có đạo đức. “Tự do và quy luật thực hành tuyệt đối liên hệ chặt chẽ với nhau đến nỗi không thể có cái này mà không có cái kia”

Có thể thấy, tư tưởng của Kant về tự do là một thành tựu nhân văn sâu sắc của triết học phương Tây và nó chỉ có thể được coi là tự do nếu nó đi liền với quy luật đạo đức.

 

Link ppt nhóm:

https://www.canva.com/design/DAEtz_mFgLU/ekDq4_WeMOKdov4yQq-Lpw/view?utm_content=DAEtz_mFgLU&utm_campaign=designshare&utm_medium=link&utm_source=sharebutton

NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG

- Phân công: Nhóm thảo luận và trả lời câu hỏi số 3: "Vật chất tồn tại dưới hình thức và phương thức nào?"

-----------------------------------------------------------------------------

HÌNH THỨC VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA VẬT CHẤT

Hình thức vận động của vật chất rất đa dạng, được biểu hiện ra với các quy mô, trình độ và tính chất hết sức khác nhau.Dựa vào những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã chia vận động của vật chất thành 5 hình thưc cơ bản : cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội. Chính vì vậy, vận động nói chung là một hình thức tồn tại của vật chất. Cơ sở của sự phân chia đó dựa trên các nguyên tắc: các hình thức vận động phải tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất; các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở của những hình thức vận động thấp và bao hàm hình thức vận động thấp; hình thức vận động cao khác về chất so với hình thức vận động thấp và không thể quy về hình thức vận động thấp. Việc phân chia các hình thức vận động cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân chia đối tượng và xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa học, đồng thời cũng cho phép vạch ra các nguyên lý đặc trưng cho sự tương quan giữa các hình thức vận động của vật chất. Trong tương lai, khoa học hiện đại có thể sẽ phát hiện ra những trình độ tổ chức vật chất mới, và do đó, cũng có thể tìm ra những hình thức vận động mới, cho nên có thể và cần phải phát triển, bổ sung cho sự phân loại nói trên của Ph.Ăngghen, mặc dù những nguyên tắc căn bản của sự phân loại đó vẫn giữ nguyên giá trị.

Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau. Giữa hai hình thức vận động cao và thấp có thể có hình thức vận động trung gian, đó là những mắt khâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hoá lẫn nhau của các hình thức vận động. Tuy nhiên, những kết cấu vật chất đặc thủ bao giờ cũng được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản nhất định và khi đó các hình thức vận động khác chỉ tồn tại như những nhân tố, những vệ tinh của hình thức vận động cơ bản. Vì vậy, vừa phải thấy mối liên hệ giữa các hình thức vận động, vừa phải phân biệt sự khác nhau về chất của chúng. Các nhà triết học duy vật thế kỷ XVII và XVIII, do quan niệm siêu hình, đã quy mọi hình thức vận động thành một hình thức duy nhất là vận động cơ học. Họ coi hoạt động của giới tự nhiên và của cả con người không gì khác hơn là hoạt động của một cỗ máy. Việc quy hình thức vận động phức tạp thành hình thức vận động giản đơn được gọi là chủ nghĩa cơ giới. Quan niệm sai lầm của chủ nghĩa cơ giới là nguyên nhân dẫn đến bế tắc trong việc lý giải những biến đổi của thế giới sinh vật và xã hội.

Đến giữa thế kỷ XIX, những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hội, một biến tướng của chủ nghĩa cơ giới, lại quy vận động xã hội thành vận động sinh học, coi con người như là một sinh vật thuần tuý. Họ cho rằng, sự tồn tại phát triển của xã hội là quá trình chọn lọc tự nhiên, trong đó con người cắn xé, tiêu diệt lẫn nhau để sinh tồn, kẻ nào mạnh, thích ứng được thì tồn tại, ngược lại sẽ bị tiêu diệt. Rõ ràng, thuyết tiến hoá của Đácuyn là một khoa học chân chính; còn chủ nghĩa Đácuyn xã hội là sai lầm, bịa đặt vì nó hạ con người xuống hàng con vật. Nó là cơ sở lý luận cho sự áp đặt trật tự tư bản, biện hộ cho chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, nghiên cứu sự thống nhất và khác nhau của các hình thức vận động của vật chất vừa là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta dề phòng và khắc phục những sai lầm trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn xã hội.

*Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất:

Mỗi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định và tồn tại trong những mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác. Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian. mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,…Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian.

Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”. Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ngoài vật chất vận động.

Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn.

Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều còn thời gian chỉ có một chiều. tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động.

 

PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất.

Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, – tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.

Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất.

Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ đã khẳng định vận động là vĩnh viễn. Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng  chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động.

Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật.

 

Link ppt nhóm:

https://www.canva.com/design/DAEx08-TCWI/aCkheA20JYy2zEDbgtatSg/view?utm_content=DAEx08-TCWI&utm_campaign=designshare&utm_medium=link&utm_source=sharebutton

CÁI CHUNG & CÁI RIÊNG

Khái niệm

Phạm trù cái chung: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau ở nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ.

Phạm trù cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.

Phạm trù đơn nhất: tức phạm trù dùng để chỉ những mặt, thuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định mà không lặp lại ở kết cấu khác.

Ví dụ: Xã hội là cái chung - Xã hội nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xã hội chủ nghĩa là cái riêng.

Mỗi con người là một cái riêng; những thuộc tính tự nhiên và xã hội khiến cho con người khác với động vật giữ vai trò là cái chung; nhưng mặt khác, ở mỗi con người lại có những thuộc tính không lặp lại ở nhau như: cấu tạo gen, nhân cách, năng lực,… cụ thể khác nhau.

 

Mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất

Cái chung và cái riêng đều tồn tại và giữa chúng có sự thống nhất biện chứng. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng, tức là không có cái chung thuần túy, trừu tượng, biệt lập bên cạnh cái riêng.

Ví dụ: “Con người nói chung” không tồn tại tách rời, bên ngoài từng con người cụ thể, mà chỉ là biểu hiện của sự tồn tại của mình thông qua từng con người cụ thể.

Không có con “động vật” chung tồn tại bên cạnh con trâu, con bò, con gà cụ thể. Trong bất cứ con trâu, con bò, con gà riêng lẻ nào cũng đều bao hàm trong nó thuộc tính chung của động vật, đó là quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.

Không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể. Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào... nào cũng có rễ, có thân, có lá, có quá trình đồng hoá, dị hoá để duy trì sự sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ,và được phản ánh trong khái niệm "cây". Đó là cái chung của những cái cây cụ thể.

Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Bất cứ sự vật nào cũng đều tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định và tham gia vào muôn vàn những mối liên hệ, tác động với những cái khác.

Ví dụ: Mỗi con người là một “cái riêng”, nhưng con người ấy không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với với xã hội và tự nhiên. Không có cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và quy luật xã hội.

Nền kinh tế của mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng phong phú là những cái riêng. Nhưng bất cứ nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi các quy luật chung như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng v.v..

Cái chung là bộ phận của cái riêng. Cái riêng không gia nhập hết vào cái chung. Cái chung là cái sâu sắc hơn cái riêng, bởi vì nó phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, ổn định, phố biến tồn tại trong cái riêng cùng loại.

Ví dụ: Giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới.

Người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn v.v., còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.

Cái chung và cái đơn nhất tồn tại ở trong cái riêng trong mỗi sự vật, hiện tượng. Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, ở những điều kiện nhất định, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cái đơn nhất trong quá trình phát triển sẽ dần dần mạnh lên trở thành cái phổ biến, cái chung. Ngược lại, cái chung từ chỗ là cái phổ biến dần thành cái đơn nhất.

Ví dụ: Tục nhuộm răng đen trong xã hội phong kiến là cái chung phổ biến.

Sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất

 

Ý nghĩa của phương pháp luận và liên hệ thực tiễn

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học Mác-Lênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:

Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.

Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng.

Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định "cái đơn nhất" có thể biến thành "cái chung" và ngược lại "cái chung" có thể biến thành "cái đơn nhất", nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất".

Trong Bút ký Triết học, Lênin viết

“Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất đi hẳn tính nguyên tắc.”

Ví dụ: Từ các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam


ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

 1. Âm dương ngũ hành là gì?

- Thuyết Âm Dương Ngũ Hành có nguồn gốc từ Trung Hoa xưa, lần đầu tiên được tìm thấy trong sách “Quốc ngữ”. Theo nghiên cứu tài liệu này thì tất cả vật chất trong vũ trụ đều mang hai dạng năng lượng là: Âm và Dương.

- Âm khí đại diện cho nguồn năng lượng lạnh sự ảm đạm, buồn bã, yếu đuối.

- Dương khí lại đại diện cho nguồn năng lượng nóng như sự nhiệt tình, hân hoan, phấn chấn, mạnh mẽ.

à Sự tác động qua lại của 2 nguồn năng lượng này duy trì trạng thái cân bằng cho vũ trụ ở hầu hết các mặt có trong cuộc sống.

- Ngày nay, thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã là một phần trong đời sống người phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.

- Việc vận dụng tốt Âm Dương Ngũ Hành vào các hoạt động của đời sống như xây nhà, cưới hỏi, mua bán…đem lại những tín hiệu tích cực cho cuộc sống của người dân.

Phong thuỷ ngũ hành

- Một trong những ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ Hành là phong thủy và được giải thích theo khoa học.

- Theo đó, quy luật vận động năng lượng của sự sống xoay quanh 5 Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

- Theo đó mọi vật đều được gắn các thuộc tính này để lý giải về các nguyên lý năng lượng.

- Vạn vật trong vũ trụ đều có sự tương tác qua lại giữa chúng nhằm tạo sự cân bằng,

à Sự tương tác này được diễn giải bằng những quy luật Ngũ Hành.

Các quy luật ngũ hành

Sự hoạt động của Ngũ Hành được miêu tả bằng các quy luật ngũ hành, chúng bao gồm những quy luật sau:

 

2. Quan niệm cân bằng Âm Dương trong phong thuỷ và tính hài hoà trong kiến trúc hiện đại.

- Để một công trình kiến trúc có thể tồn tại trong một khoảng thời gian dài hàng trăm năm, nó phải đạt đựơc ít nhất là hai yếu tố:

* Thứ nhất là về tính thẩm mĩ của công trình.

* Thứ hai là phải hợp lí trong công năng sử dụng.

- Hay nói ngắn gọn là công trình đó phải đẹp và hài hoà thì nó mới tồn tại lâu dài, bên cạnh đó phải hợp lý trong quá trình sử dụng thì nó mới được người đời trân trọng gìn giữ và không bị đập đi thay thế bằng công trình khác.

- Đứng dưới góc độ Phong thuỷ mà nói, để công trình kiến trúc tồn tại được trong một thời gian dài thì các yếu tố về cân bằng Âm dương và ngũ hành phải đạt đến mức độ chuẩn mực. Tức là nó phải bao hàm cả yếu tố thẩm mỹ và tính hài hoà cân đối.

- Khi các yếu tố về Âm Dương và Ngũ hành cân bằng – tức là tính thẩm mỹ, tính hài hoà và cân đối cao – thì tự bản thân công trình sẽ có tác động tích cực đến ý thức con người, khiến người ta trân trọng và có ý nghĩ bảo tồn nó.

Vậy trong kiến trúc, âm dương được thể hiện như thế nào? Đâu được coi là âm, đâu được coi là dương?

- Như đã nêu ở trên, âm dương là 2 mặt của sự sống, sự đảm bảo của âm dương là sự đảm bảo cho cuộc sống tồn tại và phát triển. Vì vậy nhà ở cũng phải đảm bảo các nguyên tắc âm dương cân bằng.

> Nếu do kiến trúc ngồi nhà ở thuần dương thì dương khí quá vượng, khiến cho người cứ ngụ trong ngôi nhà đó bất ổn định, quá năng động, tinh thần dễ phấn khích dẫn đến hấp tấp, vội vàng, vì thế dễ đưa ra những quyết định thiếu chin chắn, bất lợi. Nhà ở thuần dương khiến cho người cư ngụ ở đó thích đi lại hoạt động, thích cuộc sống bên ngoài, không muốn về nhà ( nhất là những người mệnh dương ). Họ có thể thường xuyên vắng nhà, bù khú vui chơi với bạn bè ở ngoài không thích về nhà, hoặc có chăng chỉ là về đảo qua hoặc là chỉ về để ngủ.

>  Ngược lại, nếu nhà thuần âm, khí âm quá vượng, thường dẫn tới trì trệ, khiến cho những người sống trong ngôi nhà đó trở nên lười nhác, bảo thủ, ngại vận động lại ít chịu suy nghĩ, không quyết đoán, không dám chấp nhận đương đầu với khó khắn mà thường dễ bằng lòng với những gì mình có. Thậm chí với những người mệnh âm còn chịu sự tác động mạnh hơn, khiến họ có thể trở nên yếu đuối, nhút nhát, ngại va chạm, tự ti. Ở ngôi nhà thuần âm cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều bệnh tật nảy sinh, đặc biệt là những bệnh về đường ruột, phong thấp, phù thũng.

- Vì vậy một ngôi nhà muốn cho những người cư ngụ trong đó được phát triển bình thường và hài hòa thì ngôi nhà đó phải được đảm bảo âm dương cân bằng. Đó chính là yêu cầu số một trong kiến trúc hiện đại.

- Trong kiến trúc về mặt hình thể thì phần lồi ra là dương, phần lõm vào là âm. Phần thu được ánh sáng là dương, phần khuất tối là âm. Những mảng đặc, những khối có đường nét cứng rắn là dương, những mảng rỗng, những khối có đường nét uyển chuyển là âm. Vật liệu thô ráp, sần sùi là âm, vật liệu nhẵn bóng, mịn màng là dương. Màu sắc nóng là dương, màu sắc lạnh là âm.

Nguyên tắc  

- Nguyên tắc đảm bảo hài hòa âm dương khiến cho trong thiết kế kiến trúc khi thiết kế một khối lồi ra (dương) thì sau đó phải trả lại một khối lõm vào ( âm ).

- Khối lồi ra nên dùng vật liệu nhám, sần sùi, thô ráp để lấy thiếu âm thái dương như lát hay ốp chân tường bằng đá xẻ, gạch thẻ.

- Ngược lại khối lõm vào, hay phần thiếu ánh sáng ( âm ) nên dùng vật liệu láng bóng, trơn nhẵn, màu sáng, ấm, để lấy cái thiếu dương bổ sung cho cái âm.

à Đó là một trong những giải pháp cân bằng âm dương trong kiến trúc.

 

3. Phân tích một công trình cụ thể: VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM

- Văn Miếu Quốc Tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam. Kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám mang đậm dấu ấn của kiến trúc phương Đông, nơi thể hiện rõ triết lý âm dương ngũ hành trong từng thiết kế dù là nhỏ nhất.

Đôi nét sơ lược về Văn Miếu Quốc Tử Giám

 - Khu quần thể di tích nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông. Nay nằm trên đường Quốc Tử Giám, phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức thắng, phía Đông là phố Văn Miếu.

- Với tổng diện tích khu quần thể di tích 54331 m2

- Văn Miếu được xây dựng từ tháng 8 năm 1070 dưới đời vua Lý Thánh Tông để thờ Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo bên cạnh việc là nơi dạy học cho các hoàng tử.

- Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ngay cạnh Văn Miếu và được xem là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam và dần thu nhận thêm các bậc hiền tài trong cả nước, không chỉ đơn thuần là nơi trau dồi tri thức của các hoàng tử và con cái của bậc triều thần.

- Gần cuối thế kỉ 15, vua Lê Thánh Tông bắt đầu cho dựng bia Tiến sĩ để ghi danh những người đỗ Tiến sĩ trong các kì thi của triều đình.

- Tổng thể kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám sau nhiều lần trùng tu hiện tại được chia thành năm khu gắn kết bởi các bức tường gạch có cửa thông bao gồm: Văn Miếu Môn (cổng vào Văn Miếu); Khuê Văn Các; khu Bia Tiến sĩ; Khu Đại bái và nhà Thái Học.

à Tất cả đều được thiết kế theo một trục thần đạo hợp nhất.

- Đây cũng là một trong những yếu tố thể hiện nét phong thủy trong kiến trúc phương Đông.

- Vậy yếu tố phong thủy và triết lý âm dương được thể hiện ra sao trong khu quần thể di tích mang đậm tinh thần hiếu học của người dân Việt Nam tự đời xưa?

Triết lý âm dương – yếu tố phong thủy ảnh hưởng sâu đậm trong kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám

- Ngay tới việc lựa chọn Thăng Long là kinh đô của nước Đại Việt với “thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Đông Tây Nam Bắc, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng…”, Thái Tổ Lý Công Uẩn cũng đã nhìn ra được yếu tố phong thủy. Yếu tố phong thủy đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người Việt không chỉ từ ngàn năm trước mà ở hiện tại, việc lựa chọn vị trí đất, thiết kế kiến trúc dựa trên phong thủy cũng vô cùng quan trọng.

- Thêm vào đó triết lý âm dương, con người là trung tâm vũ trụ, là kết tinh hội tụ của đất trời, ngay cả trong những công trình kiến trúc cũng cần giao hòa cả ba yếu tố Thiên – Địa – Nhân.

- Các yếu tố âm dương ngũ hành sẽ mang tới sự cân bằng của vạn vật trong vũ trụ mà con người ở đây là trung tâm. Chính vì vậy trong mỗi thiết kế, đặc biệt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám đã thể hiện rất rõ sự giao hòa giữa đất trời – từ những chi tiết rất nhỏ.

Kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám – Triết lý âm dương ngũ hành thể hiện ngay từ tổng thể

- Các khu riêng biệt của Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng theo một trục thẳng hai bên thiết kế đối xứng. Là nơi để thờ Khổng Tử cũng như tôn vinh nền văn học của nước nhà, chính vì vậy đường thần đạo này là nơi để hội tụ linh khí đất trời, nằm trên dòng khí nối liền Thiên – Địa – Nhân, mang tới sự giao hòa giữa đất trời và con người.

Cho đến từng chi tiết: Hồ Văn – Văn Miếu Môn – Khuê Văn Các và các chi tiết nhỏ

- Một trong những yếu tố đầu tiên khi xây dựng nên công trình Văn Miếu Quốc Tử Giám là đều phải đảm bảo được các yếu tố liên quan tới phong thủy, đặc biệt cân bằng được yếu tố âm dương. Chính vì vậy bên cạnh công trình (mang yếu tố dương) trước có hồ, sau dựa núi, trước mặt Văn Miếu luôn có hồ nước (mang yếu tố âm) Hồ Văn. Đây được coi là “tiểu minh đường” của Văn Miếu và là một trong những mắt xích quan trọng của toàn bộ công trình chung.

- Ngay cả cổng vào Văn Miếu Môn cũng thể hiện rõ điều này với lối thiết kế ba cửa, cửa giữa xây to và dựng hai tầng.

- Mặt bằng hình vuông, tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới, xung quanh thừa ra hàng hiên rộng, bốn mặt có lan can.

- Điểm đặc biệt ở tầng trên chia làm tám mái, 4 mái hiện và 4 mái nóc, là con số của bát quái. Yếu tố bát quái và kinh dịch một lần nữa được lặp lại trong kiến trúc của Khuê Văn Các.

- Khuê Văn Các – Thiên Quang Tỉnh (Gác Khuê Văn – Giếng Thiên Quang), xét về ngữ nghĩa, sao Khuê là tên chòm sao sáng nhất trong 28 chòm sao. Chòm sao Khuê có 16 ngôi sao, sắp xếp giống như hình chữ Văn, biểu trưng của văn chương.

- Thiết kế ở Khuê Văn Các, công trình được chọn làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội năm 2012 có kiến trúc đối xứng với bệ chân cột hình vuông, cửa sổ hình tròn. Đây cũng là yếu tố tiếp theo thể hiện được triết lý âm dương.

- Theo quan niệm, trời tròn đất vuông, tròn tượng trưng cho yếu tố dương, vuông tượng trưng cho yếu tố âm. Ngay trong từng thiết kế cột trụ vuông và bốn mặt cửa sổ hình tròn mang tới sự cân đối hài hòa.

- Điểm đặc biệt, bên cạnh Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang hình vuông, thể hiện trọn vẹn triết lý âm dương trong thiết kế.

- Khuê Văn Các là một lầu vuông tám mái gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước với ba bậc thang đá. Bốn trụ gạch vuông, mỗi cạnh của các mặt trụ có chiều dài một mét.

- Theo Kinh Dịch, những con số lẻ tượng trưng cho yếu tố dương, số chẵn tượng trưng cho yếu tố âm, Khuê Văn Các đã vận dụng linh hoạt các yếu tố này trong thiết kế cột, bệ và các tầng, gác mái. Tám mái là bát quái, thêm một nóc ở trên là chín, là số cửu trù, cực Dương, mang tới sự thịnh vượng cho cả công trình.

- Màu sắc cũng được sử dụng hài hòa trong quần thể di tích lịch sử, thể hiện được sự cân đối giữa ngũ hành Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ với màu đỏ, vàng của sơn son thếp vàng trong mỗi câu đối kết hợp màu sắc tự nhiên của từng chất liệu gỗ, đá, gạch lát.

- Các hình tượng rồng đá – biểu tượng của đất trời cũng như hình tượng rùa cõng hạc, rùa mang yếu tố âm, hạc mang yếu tố dương cũng được thể hiện, cân bằng cả hai nguồn năng lượng âm dương.

TỶ LỆ VÀNG

Định nghĩa:

Tỷ lệ vàng trong nghệ thuật và kiến trúc phương Tây và khái niệm tỷ lệ “Tường minh” trong phong thuỷ Đông phương.

Trong các ngành nghệ thuật tạo hình nói chung và trong nghệ thuật Kiến trúc nói riêng tồn tại những con số, những tỷ lệ được coi là chuẩn mực. Con số và tỷ lệ này được tìm thấy qua quá trình lao động và đúc kết bằng kinh nghiệm khi quan sát và chọn lọc từ giới tự nhiên. Khi đem các con số, các tỷ lệ này vào ứng dụng trong các tác phẩm về nghệ thuật, các công trình kiến trúc thì luôn tạo được hiệu quả thẩm mỹ tuyệt vời. Tỷ lệ vàng trong kiến trúc Phương Tây mà trong Phong Thuỷ Phương Đông gọi tỷ lệ là tỷ lệ “Tường minh” ra đời từ đó.

Tỷ lệ vàng (The Golden Ratio) là một thuật ngữ toán học, hình học, có ký hiệu là φ (phi = 1,61803) được đặt theo tên của nhà điêu khắc, họa sĩ và kiến trúc sư thế kỷ thứ năm trước Công nguyên – Phidias. Phidias đã sử dụng nó để tạo ra đền thờ Parthenon và áp dụng trong tượng nữ thần Athena-thần được thờ trong đền.

Về mặt hình ảnh, tỷ lệ vàng xuất hiện dưới dạng đường xoắn ốc, còn được gọi là đường xoắn ốc Fibonacci hoặc đường xoắn ốc vàng. Một đường xoắn ốc logarit phát triển theo hệ số của tỷ lệ vàng. Nó bắt đầu với tập hợp các ô vuông, mỗi ô vuông tương ứng với 8 số liên tiếp trong dãy và được xếp theo thứ tự như hình bên dưới. Sau đó, vẽ một cung tròn từ góc của số nhỏ nhất đến góc số lớn nhất còn lại, để lộ ra một hình xoắn ốc cân đối hoàn hảo.       

Xét về mặt kiến trúc, tỷ lệ này thường có dạng hình chữ nhật vàng – bất kỳ vật thể, công trình nào có thể chia thành dạng hình vuông và hình chữ nhật đều có thể tạo ra tỷ lệ xấp xỉ bằng 1: 1,61. Vì cả chiều dài và chiều rộng của những hình dạng ấy có thể chia theo tỷ lệ vàng. Hơn nữa, theo lý thuyết cho rằng có thể tăng hoặc giảm tỷ lệ cấu trúc trong khi vẫn duy trì được tỷ lệ vàng.

Nó được dùng để xác định các mối quan hệ giữa chiều rộng và chiều cao của toà nhà, kích thước các chi tiết như mái hiên, các cột, sân, bậc thang, … nhằm đưa đến kết quả mà chúng ta dễ dàng nhìn thấy được là một ngôi nhà, công trình hài hoà, cân xứng,

=> Áp dụng quy tắc tỷ lệ vàng sẽ giúp tạo cảm giác dễ chịu và tự nhiên hơn khi nhìn vào tác phẩm thiết kế của bạn. Nó tạm hiểu là “sự hài lòng thị giác”.   

Trong thiết kế nội thất:         

Tỷ lệ vàng xuất hiện rất thường xuyên trong phân chia bố cục không gian. Các kiến trúc sư thường sẽ chia một căn phòng thành hai phần: Một phần lớn chiếm 2/3 diện tích và một phần còn lại nhỏ hơn. Phần diện tích lớn sẽ chứa đồ nội thất chính của căn phòng, chịu trách nhiệm làm nổi bật không gian. Phần nhỏ hơn đảm nhiệm mục đích sử dụng thứ cấp, chẳng hạn như khu vực chỗ ngồi hoặc kho lưu trữ thay thế.

 

Tỷ lệ vàng cũng sẽ giúp bạn phối màu sắc cho căn phòng một cách dễ dàng hơn. Ví dụ quy tắc 10-30-60 là một trong những tỷ lệ vàng mà các kiến trúc sư áp dụng nhiều nhất khi sơn và trang trí. Cụ thể, khi thiết kế nội thất, một không gian chỉ nên có 3 màu: 1 màu chủ đạo chiếm 60% không gian (tường, sàn), 1 màu chiếm 30% không gian (nội thất), 1 màu chiếm 10% không gian còn lại (trang trí nhỏ) nhằm tạo điểm nhấn cho ngôi nhà.

 

 Một số công trình tiêu biểu trên thế giới áp dụng tỷ lệ vàng trong kiến trúc

1.     Công trình kiến trúc đền Parthenon tại Hy Lạp

Nhìn vào phác thảo, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra các tỷ lệ xoay quanh một hình xoắn ốc với độ cao của tòa nhà Parthenon là dựa trên tỷ lệ của hình chữ nhật Vàng. Chính nhờ vào sự trực quan mà nó mang lại, công trình Parthenon mới đạt được sự hài hoà, cân đối, độc đáo có một không hai trên thế giới.

2.     Đền Taj Mahal tại Ấn Độ

Một trong 7 kỳ quan của thế giới, đền thờ Taj Mahal cũng là ví dụ điển hình ứng dụng tỷ lệ vàng trong xây dựng. Khi có tới 67,45% được căn chỉnh theo tỷ lệ vàng. Bức ảnh bên dưới cho thấy sự cân xứng đến tuyệt đối của công trình.

3.    Đại kim tự tháp Giza

Kim tự tháp Giza là một trong những ví dụ về tỷ lệ Vàng lâu đời nhất trong kiến trúc (được xây trong khoảng thời gian 24 năm từ khoảng năm 2560 TCN). Trên thực tế, tỷ số Vàng xuất hiện trong toàn bộ cấu trúc hình học của công trình này.

Ví dụ, nếu lấy tổng diện tích của bốn mặt chia cho diện tích đáy, ta sẽ được 1,618. Một ví dụ khác: nếu lấy một mặt cắt ngang của kim tự tháp để thấy được hai tam giác vuông. Cạnh huyền của một tam giác, hay chiều dài từ đáy kim tự tháp đến đỉnh của nó sẽ là 186 m; khoảng cách từ tâm của mặt đáy tới đỉnh là 115 m. Và nếu lấy 186 m chia cho cho 115 m thì một lần nữa, kết quả lại là 1,618.

Bên cạch đó, tỷ lệ vàng còn được ứng dụng rông rãi trong nhiều lĩnh vực sáng tạo khác, có thể kể đến như:

Leonardo da Vinci cũng đã minh họa mối liên hệ giữa cơ thể người và tỷ lệ Vàng trong các bản phác thảo của ông, chẳng hạn như bức “Vitruvian Man”. Ví dụ: Vòng xoắn vàng có thể được nhìn thấy trong tai của con người; hoặc bàn tay so với cánh tay cũng theo tỷ lệ 1: 1,618. Ngay cả các ngón tay cũng được tách ra theo một loạt các phần giảm dần, mỗi phần tương ứng với Phi.

Hay bức tranh Mona Lisa nổi tiếng cũng đã áp dụng tỷ lệ này

 

LINK PPT NHÓM:

https://www.canva.com/design/DAEvHV4_HLA/7x5NsyiTx9aOq2kMZ3c2bg/view?utm_content=DAEvHV4_HLA&utm_campaign=designshare&utm_medium=link&utm_source=sharebutton

 

Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ

ABOUT ME

Plant your garden and decorate your own soul, instead of waiting for someone to bring you flowers - Jose Luis Borges

SUBSCRIBE & FOLLOW

POPULAR POSTS

FOOD
ANIME/MANGA
Được tạo bởi Blogger

Báo cáo vi phạm

Tìm kiếm Blog này

  • tháng 1 20223
  • tháng 12 20219
  • tháng 10 20213

Người đóng góp cho blog

  • Cao Hà Anh
  • Chi
  • DiemQuynh
  • Khue

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Copyright © LIFE IS A JOURNEY. Designed by OddThemes