LIFE IS A JOURNEY

I’m on the way to become the best version of me

LIFE IS A JOURNEY

I’m on the way to become the best version of me

  • Home
  • About me
  • Subject
    • Nhập môn Kiến trúc nội thất
    • Triết học
      • Mục tiêu môn học
      • Chương 1
      • Chương 2
      • Chương 3
      • Tổng kết môn học
    • Đồ án
      • Đồ án cơ sở Kiến trúc 1 - Đường nét - chữ số
      • Đồ án cơ sở Kiến trúc 2 - Vẽ mẫu nhà
    • HÌNH HỌA
      • HÌNH HỌA 1
  • Contact Me

“Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội”. Thông qua bộ phim “A walk to remember", hãy làm rõ quan điểm của mình về nhận định trên.

- Dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Nicholas Spark, bộ phim “A walk to remember” đã được dựng lên và có lẽ đây là câu chuyện mà để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất. Motip phim có lẽ là không mới, kể về tình yêu của cậu học sinh “hư” Landon Carter và cô nàng ngoan hiền Jamie Sullivan, một kiểu tình yêu điển hình dễ bắt gặp. Sau khi bị kỉ luật vì trò nghịch ngợm đã gây ra tại nạn cho một người bạn của mình, Landon phải đi dạy cho trẻ em và tham gia vở kịch nói của trường. Từ đây, cậu và Jamie gặp và tiếp xúc với nhau. Phân đoạn Jamie lột xác thành một thiếu nữ đầy quyến rũ trong khi vở kịch công chiếu khiến Landon bồi hồi và chủ động hôn cô như là kết quả của những cảm xúc mông lung trong thời gian dài tiếp xúc cùng nhau. Tuy nhiên, sang nửa sau của phim, trái với màu sắc ngọt ngào của nửa đầu, giờ đây là một nỗi buồn mênh mang. Tuy nhiên, thay vì u uất, bi kịch, thì câu chuyện lại tiếp diễn bằng những hành động đầy ấm áp của các nhân vật. Chính phần sau này đã làm nên tính cảm động, nét riêng của bộ phim khiến nó không lẫn vào những bộ phim tình cảm khác. Đoạn Landon bắt đầu thực hiện những gạch đầu dòng trong 100 điều phải làm cho Jamie là một cảnh rất hay có thể khiến cho bất kì cô gái nào xem phim đều thích thú. Có một câu nói của Jamie nghe thật day dứt " con chưa từng trách Chúa vì người không công bằng với con nhưng tại sao lại mang cậu ấy đến ". Tình yêu thay đổi cậu, Landon nhưng nó cũng thay đổi Jamie nữa. Nó đã mang đến cho cô đầy cảm xúc và những trải nghiệm kì diệu mà rất nhiều người khác may mắn hơn cũng chưa được trải qua.

- Bộ phim có thể cũ, nhưng tình yêu thì luôn mới. Câu chuyện về hai cô cậu học trò ấy đã mang đến cho người xem những cảm xúc rất trong sáng, rất lạc quan dù man mác buồn. Nó gợi nhắc chúng ta về những trong veo mà tình yêu mang lại, yêu thật sâu đậm để không hối tiếc. Mỗi chúng ta đều có một phép màu từ ai đó và là phép màu của ai đó. Chứng tỏ, bản thân con người chúng ta đều có thể ảnh hưởng và nhận ảnh hưởng từ những cá thể khác, chúng ta không hề độc lập, mà tồn tại dựa trên sự tác động với nhau. Như thế, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội” – quả là không bao giờ sai.

    Tiểu thuyết “Không Gia Đình” chắc hẳn đã trở thành một cái tên không mấy xa lạ với những người đam mê và yêu thích việc đọc sách. Đây cũng là cuốn sách mà mình muốn giới thiệu với mọi người. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đã tạo nên tên tuổi của văn hào Hector Malot được ông cho ra mắt lần đầu vào năm 1878. Trong lần đầu tiên ra mắt đã thu hút được nhiều sự chú ý của các bạn thiếu nhi và các độc giả tại Pháp.

    Chúng ta như được hòa vào những chuyến phiêu lưu bất tận cùng gánh xiếc rong ấy. Không rõ từ lúc nào nhưng gánh xiếc ấy gần trở thành một gia đình thật sự của cậu. Sự trưởng thành của cậu bé Remi được thể hiện ngày một rõ hơn, cậu nhận được những bài học, những lời chỉ bảo và giáo dục về những phẩm chất, nhân cách quý giá của một con người từ ông Vitalis.

    Một cuộc hành trình tuy điều kiện khắc nghiệt nhưng người ta vẫn thấy ấm áp, một tình thương không phân biệt giữa người và người, người và vật. Hình ảnh cụ Vitalis điềm đạm, dù bất cứ hoàn cảnh nào ông cũng điềm đạm lạ thường có lẽ là hình ảnh in sâu trong tâm trí của Remi cũng như là tâm trí của các độc giả. Mình nhớ có đoạn Remi lỡ làm mất chú chó, cứ ngỡ ông sẽ quát mắng nhưng trái ngược lại là một giọng ôn tồn khuyên bảo rồi bỏ qua khiến Remi và thậm chí cả chúng mình là người đọc cũng cảm thấy bất ngờ. Nhưng sự yêu thương của ông Vitalis dành cho cậu mấy chốc đã chấm dứt khi ông qua đời. Cũng kể từ đó Remi phải sống tự lập, cậu dần trưởng thành hơn, dần khôn ngoan hơn, phải suy nghĩ nhiều hơn để kiếm sống, phải xoay sở để kiếm đủ tiền. Dù đôi lúc may mắn cậu có gặp được sự yêu thương hay bất hạnh phải đối mặt với khó khăn cậu vẫn nhớ lời dạy của ông Vitalis giữ phẩm chất làm người, ngay thẳng, gan dạ, tự trọng, thương người, ham lao động, không ngửa tay xin xỏ, không dối trá, gian giảo, nhớ ơn nghĩa, luôn luôn làm người có ích.

    Những thử thách của cuộc đời đưa ra dường như không thể nào làm khó cậu bé ấy, cậu bé gần như đã trở thành một tấm gương về đạo đức và lối sống dũng cảm, tình nghĩa giữa người với người và sự cao quý trong tâm hồn chúng ta. Phần kết thúc có hậu đã được văn hào Hector viết nên như tiếp thêm hy vọng cho người đọc trong những hoàn cảnh éo le nhất trong cuộc sống. Nhắc nhở chúng ta rằng: “Một cậu bé như Remi có thể thì tại sao mình lại không?”. Đó cũng là điều mà mình muốn gửi tới các bạn thông qua tiểu thuyết này. 


Câu 1: Triết học có mấy vấn đề cơ bản? đó là vấn đề nào? Tại sao đó lại vấn đề cơ bản của triết học?

a. Triết học có mấy vấn đề cơ bản?

- Triết học gồm 2 mặt.

b. Đó là vấn đề nào?

- Cụ thể:

> Mặt thứ nhất - Bản thể luận: Trả lời cho câu hỏi giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Và cái nào quyết định cái nào?

Ta có thể giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học dựa trên 3 cách sau:

Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức

Ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định đến vật chất

Ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, không quyết định lẫn nhau

Hai cách giải quyết đầu tiên tuy có đối lập nhau về nội dung, tuy nhiên điểm chung của hai cách giải quyết này đều thừa nhận một trong hai nguyên thể (ý thức hoặc vật chất) là nguồn gốc của thế giới. Cách giải quyết một và hai thuộc về triết học nhất nguyên.

Triết học nhất nguyên bao gồm hai trường phái: trường phái triết học nhất nguyên duy vật và trường phái triết học nhất nguyên duy tâm.

Cách thứ ba thừa nhận ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, cả hai nguyên thể (ý thức và vật chất) đều là nguồn gốc của thế giới. Cách giải thích này thuộc về triết học nhị nguyên.

> Mặt thứ hai - Nhận thức luận: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Đại đa số các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm cũng như duy vật đều cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới. Tuy nhiên:

Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới. Song do vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người. Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy. Một số nhà triết học duy tâm khác theo “Bất khả tri luận” lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.

c. Tại sao đó lại là vấn đề cơ bản của triết học?

- Lịch sử đấu tranh triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Có thể nói, chính các vấn đề cơ bản của triết học được xem là “chuẩn mực” để phân biệt giữa hai chủ nghĩa triết học này.

- Trên thực tế, các hiện tượng mà chúng ta vẫn thường gặp trong cuộc sống chỉ gói gọn trong hai loại: hiện tượng vật chất (tồn tại bên ngoài ý thức chúng ta) hoặc hiện tượng tinh thần (tồn tại bên trong chúng ta).

- Các học thuyết triết học rất đa dạng, song cũng đều phải trả lời các câu hỏi vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau cái nào quyết định cái nào? Vật chất và ý thức có quan hệ với nhau như thế nào? Và lấy đó là điểm xuất phát lý luận. Câu trả lời cho các câu hỏi này có ảnh hưởng trực tiếp tới những vấn đề khác của triết học. Do đó vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay giữa ý thức và vật chất được coi là vấn đề cơ bản của triết học.

Câu 2: Con người có thể tạo ra được 1 robot trí tuệ nhân tạo có cả trí thông minh IQ và EQ không? Tại sao?

- Con người không thể tạo ra được 1 robot trí tuệ nhân tạo có cả trí thông minh IQ và EQ trong tương lai.

- Vì những dữ liệu mà con người lập trình vào robot không thể khiến cho robot có cảm xúc như con người. Trong tương lai, robot có thể nhận biết, phân tích được những hành vi, cảm xúc của con người (nhằm phục vụ mục đích trợ giúp con người) nhưng điều đó không có nghĩa là robot có  cảm xúc của riêng nó, nó chỉ đơn giản là nhận biết cảm xúc của người đối diện thông qua những thuật toán được con người cài đặt.

- Để lý giải vì sao con người không thể tạo ra cảm xúc cho Robot, ta nên đi sâu vào phân tích con người, chúng ta có 2 cách để giải quyết và nhìn nhận mọi việc, lý trí và tình cảm. Chúng ta có thể dễ dàng dùng lý trí để phân tích cảm xúc, nhưng dùng cảm tình cảm để cảm nhận cảm xúc đó là một việc rất khác. Ví dụ như trong chuyện tình cảm, một người mẹ có thể yêu đứa con mình bất chấp nó có hư hỏng thế nào, tất cả chúng ta đều có thể lý giải cảm xúc đó, và kể cả người mẹ, ta có thể nêu tên cảm xúc đó là tình mẹ, nhưng nếu ta hỏi tại sao lại có cảm xúc đó, thì lại rất khó trả lời, tại sao người mẹ lại yêu con mình? Một câu hỏi khó, vì đôi khi chính người mẹ đó được hỏi cũng không trả lời được. Từ đó, ta nhận ra, cảm xúc là một thứ ta có thể nêu tên nhưng lại rất khó hiểu, đôi khi cùng một trường hợp, nhưng cảm xúc mỗi người lại khác nhau. Vậy từ đây, ta lại phải hỏi lại chính mình, liệu ta có thể lập trình cảm xúc - thứ mà chính ta còn không hiểu - cho một con robot.


NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG

- Vẽ timeline biểu thị phân kì của lịch sử Triết học

- Thời kỳ: HIỆN ĐẠI

   > Giới thiệu tối thiểu 2 đại biểu và tóm tắt tổng quan tư tưởng

----------------------------------------------------

TIMELINE


Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Descartes

Descartes (1596–1650) là triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được xem là cha đẻ của triết học hiện đại. Thời niên thiếu, Descartes đã tỏ ra là người hiếu học, ưa suy tưởng, câu hỏi tại sao luôn được ông đặt ra với các thành viên trong gia đình và với chính bản thân mình.

Sở dĩ Descartes được xem là cha đẻ của triết học hiện đại vì ông đã tìm cách trao cho triết học sự chắc chắn của toán học mà không cần viện đến bất cứ loại giáo lý hay thần quyền nào, để kiến lập một nền tảng chắc chắn, duy lý cho tri thức.

Trong khi nhiều nhà triết học vẫn tin tưởng và bảo vệ quản điểm của họ về sự tồn tại của các nguồn sức mạnh siêu nhiên từ thượng đế thì Descartes chỉ tin vào sức mạnh của tư duy logic con người. Ông tin rằng bất kì điều gì không đúng diễn ra đều do sự sai lầm trong suy nghĩ đến từ sự bối rối, định nghĩa sai lệch và sự phi logic vô thức.

Một trong những phương pháp suy luận rất nổi tiếng của ông đó chính là “phương pháp nghi vấn.” Phương pháp này bắt đầu bằng việc người suy tư gạt qua một bên bất cứ niềm tin nào có thể bị hoài nghi tính xác thực của nó, dù chỉ một ít hay toàn bộ. Mục đích của Descartes là nhằm cho thấy rằng, ngay cả khi xuất phát từ quan điểm hoài nghi nhất có thể, ngờ vực tất cả mọi thứ, ta vẫn có thể đạt đến tri thức.

Trong cuốn “Phương pháp luận”-tác phẩm lớn đầu tiên của ông xuất bản năm 1637, Descartes đã trình bày: “Tôi tư duy, thế nên tôi tồn tại”. Sau này, cũng chính nhờ cuốn sách này, mọi người có được một ý niệm về phương pháp kiểm chứng các điều suy luận.

Một điều nữa khiến ông khác biệt hơn hẳn so với các nhà triết học khác đó là ông quan niệm rằng nền tảng cho tất cả tư duy, ý tưởng của chúng ta đều dựa trên trải nghiệm cá nhân của từng người, không phải dựa trên luật lệ hay truyền thống. Bản thân ông cũng đã dành phần lớn thời gian thanh xuân của mình để tham gia vào rất nhiều những cuộc chiến, bằng cách đó ông có thể đến nhiều nơi, học hỏi văn hoá, con người ở vùng đất đó đông thời thử thách bản thân với bất kì điều gì cuộc sống mang đến.

Descartes đã dự nhiều trận mạc nhưng chàng không bao giờ ngừng học hỏi về Siêu Hình và Toán Học và nếu có trường hợp nào cần áp dụng kiến thức Toán Học, chàng đều đem ra thực hành ngay.

Descartes đã dành cả cuộc đời mình để tìm hiểu tri thức, việc áp dụng đại số vào hình học trong tác phẩm hình học của ông đã mở đầu cho môn hình học giải tích. Tuy nhiên, có lẽ chính sự nghiêm khắc trong tư duy của Descartes và sự phản đối của ông với bất cứ hình thức dựa dẫm nào vào thần quyền mới là di sản quan trọng nhất của ông.

 

Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Kant

Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Konigberg - một thành phố thuộc vùng đông bắc nước Phổ, nay là Kaleningnad. Năm 1740, I.Kant học triết tại trường Đại học tổng hợp Konigsberg. Tại đây, Kant có dịp làm quen với cơ học, thiên văn học, toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như Niuton, Đề các tơ, Lép nít, Wolff và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp. Ông nghiên cứu kỹ năng và các hệ thống triết học của tiền nhân. Ông đặc biệt quan tâm tới các nhà triết học Anh như Lốccơ và Hium. Ông tìm hiểu hệ thống triết học Lép nít và nghiên cứu kỹ các tác phẩm của Vônphơ . Những tư tưởng của các triết gia này có ảnh hưởng sâu sắc trong hệ thống của triết học của ông sau này.

Sau tốt nghiệp, trong vòng 10 năm Kant đã làm gia sư tại nhà. Việc làm này đã tạo điều kiện vật chất cho Kant tiến hành nghiên cứu triết học. Đến năm 1770, khi đã 46 tuổi , Kant mới được bổ nhiệm làm giáo sư logic học và siêu hình học của trường Đại học Tổng hợp Konisgberg. Ở thời kì này , ông đã hoàn thành các tác phẩm triết học cơ bản trong sự nghiệp sáng tạo của mình. Kant đã để  lại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc . Đầu tiên triết học của ông gắn với khoa học tự nhiên và sau đó càng ngày càng quan tâm tới những vấn đề con người, tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự chuyển biến đó là “Phê phán lý tính thuần túy”.

Ngày 12 tháng 2 năm 1804, Kant trút hơi thở cuối cùng với nụ cười trên môi và câu nói “Thế là tốt rồi” ông mất ở tuổi 80 khi đang viết dở tác phẩm khác.

Mặc dù ông ra đi nhưng ông đã để lại cho thế giới công trình tác phẩm đồ sộ với hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như : Phê phán lý tính thuần túy (1781), Phê phán lý tính thực tiễn (1788), Phê phán năng lực phán đoán (1790),… ngoài ra còn rất nhiều các tác phẩm triết học khác có giá trị quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nền triết học thế giới nói chung.

Triết học Kant được chia thành 2 thời kỳ: Thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán :

> Thời kỳ tiền phê phán (1745-1769), Kant chủ yếu nghiên cứu vấn đề toán học, cơ học, thiên văn học. Bên cạnh những quan niệm duy vật thời kỳ này tư tưởng của ông còn xuất hiện sự bế tắc trong việc tìm kiếm và giải quyết vấn đề triết học. Lối thoát cho sự bế tắc này được ông giải quyết trong “thời kỳ phê phán”

> Thời kỳ phê phán (1770-1804) nếu trước đây ông lại cho rằng con người không nhận thức được thế giới, thì bây giờ ông lại cho rằng con người không nhận thức được thế giới – bất khả chi, trước đây ông đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín ngưỡng. Kant đề ra nhiệm vụ cho triết học của mình là phê phán hệ thống siêu hình học cũ, đặt ngược lại một số vấn đề mà môn khoa học này tưởng như đã giải quyết xong, tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết học mới.

Tư tưởng về biện chứng của quá trình nhận thức

Một trong những điểm nổi bật của nhận thức luận Kant là biện chứng về quá trình nhận thức, thể hiện qua những luận điểm của ông về mối quan hệ giữa trực quan cảm tính và tư duy giác tính, nghịch lý của lý tính thuần túy. Tư tưởng này đã được Hegel tiếp thu một cách hợp lý trong "Khoa học logic" của ông và sau này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin nâng lên. Những giá trị của nhận thức luận Kant, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về quá trình nhận thức đã có nhiều đóng góp có giá trịcho lịch sử nhận thức nhân loại nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng.  Đánh giá những giá trị to lớn và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học Kant cũng như nhận thức luận của ông, J. Hirschberger cho rằng: "Kant được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa là triết gia lớn nhất của thời cận đại, là triết gia của nền văn hóa tân thời và của nhiều lĩnh vực khác nữa. Dù người ta có đánh giá Kant gì đi nữa, điều không thể chối cãi là ít nhất đẩy lùi tất cả những gì đi trước vào bóng tối và tỏa sáng lên những gì đi sau.

Tự do thực hành

Trong cuốn “Phê phán lý tính thực hành”, Kant đã xét lại khái niệm “tự do” dưới góc độ thực hành của lý tính.

Kant định nghĩa tự do thực hành như sau:

Tự do theo nghĩa thực hành là sự độc lập của ý chí trước sự thúc bách do các xung động của cảm năng gây ra. […] Tự do thực hành giả định tiên quyết rằng, dù một điều gì đó không xảy ra, nhưng nó phải được xảy ra, và vì thế, nguyên nhân của nó ở trong thế giới hiện tượng không phải có tính quy định nghiêm ngặt đến nỗi trong ý chí chúng ta không có một tính nhân quả nào tạo ra được một cái gì độc lập với những nguyên nhân tự nhiên và bản thân đi ngược lại sức mạnh và ảnh hưởng của tự nhiên, tức bị quy định bên trong trật tự thời gian theo những quy luật thường nghiệm, do đó không thể hoàn toàn tự mình khởi đầu một chuỗi các sự kiện.

Nếu trong lãnh vực lý trí thuần tuý, tự do siêu nghiệm chỉ có thể được suy tưởng, chứ không được nhận thức, thì trong lãnh vực của lý trí thực hành, Kant đề cập đến “cái phải là” như là điều thiết yếu làm cho ta có nhận thức thực sự về sự tự do thực hành, nghĩa là con người có năng lực hoàn toàn tự mình làm nguyên nhân cho một chuỗi sự kiện thường nghiệm.“Cái phải là” chính là quy luật thực hành hay quy luật luân lý, đạo đức trong mỗi người. Ông khẳng định: Ai đó phán đoán rằng mình có thể làm một việc chỉ vì có ý thức rằng mình phải làm việc ấy thì nhận ra sự tự do nơi chính mình – một điều mà nếu không có quy luật luân lý ắt anh ta không bao giờ nhận ra được.

Như thế, tự do có mối liên hệ chặt chẽ với quy luật luân lý, hay quy luật đạo đức hoặc quy luật thực hành. Thật vậy, chỉ khi có tự do, con người mới có thể chọn lựa làm việc tốt hoặc việc xấu; mặt khác, khi thấy con người tự ý làm điều lành điều ác người ta mới chứng nghiệm rằng con người là hữu thể tự do.

Trong hệ thống triết học của Kant,ông dành vị trí trung tâm trong đạo đức học là vươn tới sự tự do. Ông cho rằng không có đạo đức thì không có tự do, cũng như thiếu tự do thì không thể có đạo đức. “Tự do và quy luật thực hành tuyệt đối liên hệ chặt chẽ với nhau đến nỗi không thể có cái này mà không có cái kia”

Có thể thấy, tư tưởng của Kant về tự do là một thành tựu nhân văn sâu sắc của triết học phương Tây và nó chỉ có thể được coi là tự do nếu nó đi liền với quy luật đạo đức.

 

Link ppt nhóm:

https://www.canva.com/design/DAEtz_mFgLU/ekDq4_WeMOKdov4yQq-Lpw/view?utm_content=DAEtz_mFgLU&utm_campaign=designshare&utm_medium=link&utm_source=sharebutton

NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG

- Phân công: Nhóm thảo luận và trả lời câu hỏi số 3: "Vật chất tồn tại dưới hình thức và phương thức nào?"

-----------------------------------------------------------------------------

HÌNH THỨC VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA VẬT CHẤT

Hình thức vận động của vật chất rất đa dạng, được biểu hiện ra với các quy mô, trình độ và tính chất hết sức khác nhau.Dựa vào những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã chia vận động của vật chất thành 5 hình thưc cơ bản : cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội. Chính vì vậy, vận động nói chung là một hình thức tồn tại của vật chất. Cơ sở của sự phân chia đó dựa trên các nguyên tắc: các hình thức vận động phải tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật chất; các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ sở của những hình thức vận động thấp và bao hàm hình thức vận động thấp; hình thức vận động cao khác về chất so với hình thức vận động thấp và không thể quy về hình thức vận động thấp. Việc phân chia các hình thức vận động cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân chia đối tượng và xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa học, đồng thời cũng cho phép vạch ra các nguyên lý đặc trưng cho sự tương quan giữa các hình thức vận động của vật chất. Trong tương lai, khoa học hiện đại có thể sẽ phát hiện ra những trình độ tổ chức vật chất mới, và do đó, cũng có thể tìm ra những hình thức vận động mới, cho nên có thể và cần phải phát triển, bổ sung cho sự phân loại nói trên của Ph.Ăngghen, mặc dù những nguyên tắc căn bản của sự phân loại đó vẫn giữ nguyên giá trị.

Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau. Giữa hai hình thức vận động cao và thấp có thể có hình thức vận động trung gian, đó là những mắt khâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hoá lẫn nhau của các hình thức vận động. Tuy nhiên, những kết cấu vật chất đặc thủ bao giờ cũng được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản nhất định và khi đó các hình thức vận động khác chỉ tồn tại như những nhân tố, những vệ tinh của hình thức vận động cơ bản. Vì vậy, vừa phải thấy mối liên hệ giữa các hình thức vận động, vừa phải phân biệt sự khác nhau về chất của chúng. Các nhà triết học duy vật thế kỷ XVII và XVIII, do quan niệm siêu hình, đã quy mọi hình thức vận động thành một hình thức duy nhất là vận động cơ học. Họ coi hoạt động của giới tự nhiên và của cả con người không gì khác hơn là hoạt động của một cỗ máy. Việc quy hình thức vận động phức tạp thành hình thức vận động giản đơn được gọi là chủ nghĩa cơ giới. Quan niệm sai lầm của chủ nghĩa cơ giới là nguyên nhân dẫn đến bế tắc trong việc lý giải những biến đổi của thế giới sinh vật và xã hội.

Đến giữa thế kỷ XIX, những người theo chủ nghĩa Đácuyn xã hội, một biến tướng của chủ nghĩa cơ giới, lại quy vận động xã hội thành vận động sinh học, coi con người như là một sinh vật thuần tuý. Họ cho rằng, sự tồn tại phát triển của xã hội là quá trình chọn lọc tự nhiên, trong đó con người cắn xé, tiêu diệt lẫn nhau để sinh tồn, kẻ nào mạnh, thích ứng được thì tồn tại, ngược lại sẽ bị tiêu diệt. Rõ ràng, thuyết tiến hoá của Đácuyn là một khoa học chân chính; còn chủ nghĩa Đácuyn xã hội là sai lầm, bịa đặt vì nó hạ con người xuống hàng con vật. Nó là cơ sở lý luận cho sự áp đặt trật tự tư bản, biện hộ cho chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, nghiên cứu sự thống nhất và khác nhau của các hình thức vận động của vật chất vừa là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta dề phòng và khắc phục những sai lầm trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn xã hội.

*Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất:

Mỗi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính nhất định và tồn tại trong những mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác. Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian. mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,…Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian.

Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”. Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ngoài vật chất vận động.

Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn.

Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều còn thời gian chỉ có một chiều. tính ba chiều của không gian và một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động.

 

PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất.

Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, – tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.

Theo quan niệm của Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất.

Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũ đã khẳng định vận động là vĩnh viễn. Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng; song đứng im, cân bằng  chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động.

Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật.

 

Link ppt nhóm:

https://www.canva.com/design/DAEx08-TCWI/aCkheA20JYy2zEDbgtatSg/view?utm_content=DAEx08-TCWI&utm_campaign=designshare&utm_medium=link&utm_source=sharebutton

Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ

ABOUT ME

Plant your garden and decorate your own soul, instead of waiting for someone to bring you flowers - Jose Luis Borges

SUBSCRIBE & FOLLOW

POPULAR POSTS

FOOD
ANIME/MANGA
Được tạo bởi Blogger

Báo cáo vi phạm

Tìm kiếm Blog này

  • tháng 1 20223
  • tháng 12 20219
  • tháng 10 20213

Người đóng góp cho blog

  • Cao Hà Anh
  • Chi
  • DiemQuynh
  • Khue

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Copyright © LIFE IS A JOURNEY. Designed by OddThemes