ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
1. Âm dương ngũ hành là gì?
- Thuyết Âm Dương Ngũ Hành có nguồn gốc
từ Trung Hoa xưa, lần đầu tiên được tìm thấy trong sách “Quốc ngữ”. Theo nghiên
cứu tài liệu này thì tất cả vật chất trong vũ trụ đều mang hai dạng năng lượng
là: Âm và Dương.
- Âm khí đại diện cho nguồn năng lượng
lạnh sự ảm đạm, buồn bã, yếu đuối.
- Dương khí lại đại diện cho nguồn năng
lượng nóng như sự nhiệt tình, hân hoan, phấn chấn, mạnh mẽ.
à Sự
tác động qua lại của 2 nguồn năng lượng này duy trì trạng thái cân bằng cho vũ
trụ ở hầu hết các mặt có trong cuộc sống.
- Ngày nay, thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã
là một phần trong đời sống người phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Việc vận dụng tốt Âm Dương Ngũ Hành
vào các hoạt động của đời sống như xây nhà, cưới hỏi, mua bán…đem lại những tín
hiệu tích cực cho cuộc sống của người dân.
Phong thuỷ ngũ hành
- Một trong những ứng dụng của thuyết
Âm Dương Ngũ Hành là phong thủy và được giải thích theo khoa học.
- Theo đó, quy luật vận động năng lượng
của sự sống xoay quanh 5 Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
- Theo đó mọi vật đều được gắn các
thuộc tính này để lý giải về các nguyên lý năng lượng.
- Vạn vật trong vũ trụ đều có sự tương
tác qua lại giữa chúng nhằm tạo sự cân bằng,
à Sự
tương tác này được diễn giải bằng những quy luật Ngũ Hành.
Các quy luật ngũ hành
Sự hoạt động của Ngũ Hành được miêu tả
bằng các quy luật ngũ hành, chúng bao gồm những quy luật sau:
2. Quan niệm cân bằng Âm Dương trong phong thuỷ và tính hài hoà
trong kiến trúc hiện đại.
- Để một công trình kiến trúc có thể
tồn tại trong một khoảng thời gian dài hàng trăm năm, nó phải đạt đựơc ít nhất
là hai yếu tố:
* Thứ nhất là về tính thẩm mĩ của công
trình.
* Thứ hai là phải hợp lí trong công
năng sử dụng.
- Hay nói ngắn gọn là công trình đó
phải đẹp và hài hoà thì nó mới tồn tại lâu dài, bên cạnh đó phải hợp lý trong
quá trình sử dụng thì nó mới được người đời trân trọng gìn giữ và không bị đập
đi thay thế bằng công trình khác.
- Đứng dưới góc độ Phong thuỷ mà nói,
để công trình kiến trúc tồn tại được trong một thời gian dài thì các yếu tố về
cân bằng Âm dương và ngũ hành phải đạt đến mức độ chuẩn mực. Tức là nó phải bao
hàm cả yếu tố thẩm mỹ và tính hài hoà cân đối.
- Khi các yếu tố về Âm Dương và Ngũ
hành cân bằng – tức là tính thẩm mỹ, tính hài hoà và cân đối cao – thì tự bản
thân công trình sẽ có tác động tích cực đến ý thức con người, khiến người ta
trân trọng và có ý nghĩ bảo tồn nó.
Vậy trong kiến trúc, âm dương được thể hiện như thế nào? Đâu
được coi là âm, đâu được coi là dương?
- Như đã nêu ở trên, âm dương là 2 mặt
của sự sống, sự đảm bảo của âm dương là sự đảm bảo cho cuộc sống tồn tại và
phát triển. Vì vậy nhà ở cũng phải đảm bảo các nguyên tắc âm dương cân bằng.
> Nếu do kiến trúc ngồi nhà ở thuần
dương thì dương khí quá vượng, khiến cho người cứ ngụ trong ngôi nhà đó bất ổn
định, quá năng động, tinh thần dễ phấn khích dẫn đến hấp tấp, vội vàng, vì thế
dễ đưa ra những quyết định thiếu chin chắn, bất lợi. Nhà ở thuần dương khiến
cho người cư ngụ ở đó thích đi lại hoạt động, thích cuộc sống bên ngoài, không
muốn về nhà ( nhất là những người mệnh dương ). Họ có thể thường xuyên vắng
nhà, bù khú vui chơi với bạn bè ở ngoài không thích về nhà, hoặc có chăng chỉ
là về đảo qua hoặc là chỉ về để ngủ.
> Ngược lại, nếu nhà thuần âm,
khí âm quá vượng, thường dẫn tới trì trệ, khiến cho những người sống trong ngôi
nhà đó trở nên lười nhác, bảo thủ, ngại vận động lại ít chịu suy nghĩ, không
quyết đoán, không dám chấp nhận đương đầu với khó khắn mà thường dễ bằng lòng
với những gì mình có. Thậm chí với những người mệnh âm còn chịu sự tác động
mạnh hơn, khiến họ có thể trở nên yếu đuối, nhút nhát, ngại va chạm, tự ti. Ở
ngôi nhà thuần âm cũng là nguyên nhân khiến cho nhiều bệnh tật nảy sinh, đặc
biệt là những bệnh về đường ruột, phong thấp, phù thũng.
- Vì vậy một ngôi nhà muốn cho những
người cư ngụ trong đó được phát triển bình thường và hài hòa thì ngôi nhà đó
phải được đảm bảo âm dương cân bằng. Đó chính là yêu cầu số một trong kiến trúc
hiện đại.
- Trong kiến trúc về mặt hình thể thì
phần lồi ra là dương, phần lõm vào là âm. Phần thu được ánh sáng là dương, phần
khuất tối là âm. Những mảng đặc, những khối có đường nét cứng rắn là dương,
những mảng rỗng, những khối có đường nét uyển chuyển là âm. Vật liệu thô ráp,
sần sùi là âm, vật liệu nhẵn bóng, mịn màng là dương. Màu sắc nóng là dương,
màu sắc lạnh là âm.
Nguyên tắc
- Nguyên tắc đảm bảo hài hòa âm dương
khiến cho trong thiết kế kiến trúc khi thiết kế một khối lồi ra (dương) thì sau
đó phải trả lại một khối lõm vào ( âm ).
- Khối lồi ra nên dùng vật liệu nhám,
sần sùi, thô ráp để lấy thiếu âm thái dương như lát hay ốp chân tường bằng đá
xẻ, gạch thẻ.
- Ngược lại khối lõm vào, hay phần
thiếu ánh sáng ( âm ) nên dùng vật liệu láng bóng, trơn nhẵn, màu sáng, ấm, để
lấy cái thiếu dương bổ sung cho cái âm.
à Đó
là một trong những giải pháp cân bằng âm dương trong kiến trúc.
3. Phân tích một công trình cụ thể: VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM
- Văn Miếu Quốc Tử Giám được coi là
trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam. Kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám mang
đậm dấu ấn của kiến trúc phương Đông, nơi thể hiện rõ triết lý âm dương ngũ
hành trong từng thiết kế dù là nhỏ nhất.
Đôi nét sơ lược về Văn Miếu Quốc Tử Giám
- Khu quần thể di tích nằm ở phía
Nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu
Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ,
huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông. Nay nằm trên đường Quốc Tử Giám, phía Bắc là
phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức thắng, phía Đông là phố Văn Miếu.
- Với tổng diện tích khu quần thể di
tích 54331 m2
- Văn Miếu được xây dựng từ tháng 8 năm
1070 dưới đời vua Lý Thánh Tông để thờ Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo bên cạnh
việc là nơi dạy học cho các hoàng tử.
- Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường
Quốc Tử Giám ngay cạnh Văn Miếu và được xem là trường đại học đầu tiên ở Việt
Nam và dần thu nhận thêm các bậc hiền tài trong cả nước, không chỉ đơn thuần là
nơi trau dồi tri thức của các hoàng tử và con cái của bậc triều thần.
- Gần cuối thế kỉ 15, vua Lê Thánh Tông
bắt đầu cho dựng bia Tiến sĩ để ghi danh những người đỗ Tiến sĩ trong các kì
thi của triều đình.
- Tổng thể kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử
Giám sau nhiều lần trùng tu hiện tại được chia thành năm khu gắn kết bởi các
bức tường gạch có cửa thông bao gồm: Văn Miếu Môn (cổng vào Văn Miếu); Khuê Văn
Các; khu Bia Tiến sĩ; Khu Đại bái và nhà Thái Học.
à Tất
cả đều được thiết kế theo một trục thần đạo hợp nhất.
- Đây cũng là một trong những yếu tố
thể hiện nét phong thủy trong kiến trúc phương Đông.
- Vậy yếu tố phong thủy và triết lý âm
dương được thể hiện ra sao trong khu quần thể di tích mang đậm tinh thần hiếu
học của người dân Việt Nam tự đời xưa?
Triết lý âm dương – yếu tố phong thủy ảnh hưởng sâu đậm trong
kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám
- Ngay tới việc lựa chọn Thăng Long là
kinh đô của nước Đại Việt với “thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Đông Tây Nam Bắc,
tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng…”, Thái Tổ Lý Công Uẩn
cũng đã nhìn ra được yếu tố phong thủy. Yếu tố phong thủy đã ăn sâu vào trong
tiềm thức của người Việt không chỉ từ ngàn năm trước mà ở hiện tại, việc lựa
chọn vị trí đất, thiết kế kiến trúc dựa trên phong thủy cũng vô cùng quan
trọng.
- Thêm vào đó triết lý âm dương, con
người là trung tâm vũ trụ, là kết tinh hội tụ của đất trời, ngay cả trong những
công trình kiến trúc cũng cần giao hòa cả ba yếu tố Thiên – Địa – Nhân.
- Các yếu tố âm dương ngũ hành sẽ mang
tới sự cân bằng của vạn vật trong vũ trụ mà con người ở đây là trung tâm. Chính
vì vậy trong mỗi thiết kế, đặc biệt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám đã thể hiện rất rõ
sự giao hòa giữa đất trời – từ những chi tiết rất nhỏ.
Kiến trúc Văn Miếu Quốc Tử Giám – Triết lý âm dương ngũ hành thể
hiện ngay từ tổng thể
- Các khu riêng biệt của Văn Miếu Quốc
Tử Giám được xây dựng theo một trục thẳng hai bên thiết kế đối xứng. Là nơi để
thờ Khổng Tử cũng như tôn vinh nền văn học của nước nhà, chính vì vậy đường
thần đạo này là nơi để hội tụ linh khí đất trời, nằm trên dòng khí nối liền
Thiên – Địa – Nhân, mang tới sự giao hòa giữa đất trời và con người.
Cho đến từng chi tiết: Hồ Văn – Văn Miếu Môn – Khuê Văn Các và
các chi tiết nhỏ
- Một trong những yếu tố đầu tiên khi
xây dựng nên công trình Văn Miếu Quốc Tử Giám là đều phải đảm bảo được các yếu
tố liên quan tới phong thủy, đặc biệt cân bằng được yếu tố âm dương. Chính vì
vậy bên cạnh công trình (mang yếu tố dương) trước có hồ, sau dựa núi, trước mặt
Văn Miếu luôn có hồ nước (mang yếu tố âm) Hồ Văn. Đây được coi là “tiểu minh
đường” của Văn Miếu và là một trong những mắt xích quan trọng của toàn bộ công
trình chung.
- Ngay cả cổng vào Văn Miếu Môn cũng
thể hiện rõ điều này với lối thiết kế ba cửa, cửa giữa xây to và dựng hai tầng.
- Mặt bằng hình vuông, tầng dưới to,
tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới, xung quanh thừa ra hàng hiên rộng, bốn
mặt có lan can.
- Điểm đặc biệt ở tầng trên chia làm
tám mái, 4 mái hiện và 4 mái nóc, là con số của bát quái. Yếu tố bát quái và
kinh dịch một lần nữa được lặp lại trong kiến trúc của Khuê Văn Các.
- Khuê Văn Các – Thiên Quang Tỉnh (Gác
Khuê Văn – Giếng Thiên Quang), xét về ngữ nghĩa, sao Khuê là tên chòm sao sáng
nhất trong 28 chòm sao. Chòm sao Khuê có 16 ngôi sao, sắp xếp giống như hình
chữ Văn, biểu trưng của văn chương.
- Thiết kế ở Khuê Văn Các, công trình
được chọn làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội năm 2012 có kiến trúc đối xứng với
bệ chân cột hình vuông, cửa sổ hình tròn. Đây cũng là yếu tố tiếp theo thể hiện
được triết lý âm dương.
- Theo quan niệm, trời tròn đất vuông,
tròn tượng trưng cho yếu tố dương, vuông tượng trưng cho yếu tố âm. Ngay trong
từng thiết kế cột trụ vuông và bốn mặt cửa sổ hình tròn mang tới sự cân đối hài
hòa.
- Điểm đặc biệt, bên cạnh Khuê Văn Các
là giếng Thiên Quang hình vuông, thể hiện trọn vẹn triết lý âm dương trong
thiết kế.
- Khuê Văn Các là một lầu vuông tám mái
gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước với ba bậc thang đá. Bốn
trụ gạch vuông, mỗi cạnh của các mặt trụ có chiều dài một mét.
- Theo Kinh Dịch, những con số lẻ tượng
trưng cho yếu tố dương, số chẵn tượng trưng cho yếu tố âm, Khuê Văn Các đã vận
dụng linh hoạt các yếu tố này trong thiết kế cột, bệ và các tầng, gác mái. Tám
mái là bát quái, thêm một nóc ở trên là chín, là số cửu trù, cực Dương, mang
tới sự thịnh vượng cho cả công trình.
- Màu sắc cũng được sử dụng hài hòa
trong quần thể di tích lịch sử, thể hiện được sự cân đối giữa ngũ hành Kim –
Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ với màu đỏ, vàng của sơn son thếp vàng trong mỗi câu đối
kết hợp màu sắc tự nhiên của từng chất liệu gỗ, đá, gạch lát.
- Các hình tượng rồng đá – biểu tượng
của đất trời cũng như hình tượng rùa cõng hạc, rùa mang yếu tố âm, hạc mang yếu
tố dương cũng được thể hiện, cân bằng cả hai nguồn năng lượng âm dương.
TỶ LỆ VÀNG
Định nghĩa:
Tỷ lệ vàng trong nghệ thuật và kiến
trúc phương Tây và khái niệm tỷ lệ “Tường minh” trong phong thuỷ Đông phương.
Trong các ngành nghệ thuật tạo hình nói
chung và trong nghệ thuật Kiến trúc nói riêng tồn tại những con số, những tỷ lệ
được coi là chuẩn mực. Con số và tỷ lệ này được tìm thấy qua quá trình lao động
và đúc kết bằng kinh nghiệm khi quan sát và chọn lọc từ giới tự nhiên. Khi đem
các con số, các tỷ lệ này vào ứng dụng trong các tác phẩm về nghệ thuật, các
công trình kiến trúc thì luôn tạo được hiệu quả thẩm mỹ tuyệt vời. Tỷ lệ vàng
trong kiến trúc Phương Tây mà trong Phong Thuỷ Phương Đông gọi tỷ lệ là tỷ lệ
“Tường minh” ra đời từ đó.
Tỷ lệ vàng (The Golden Ratio) là một
thuật ngữ toán học, hình học, có ký hiệu là φ (phi = 1,61803) được đặt theo tên
của nhà điêu khắc, họa sĩ và kiến trúc sư thế kỷ thứ năm trước Công nguyên –
Phidias. Phidias đã sử dụng nó để tạo ra đền thờ Parthenon và áp dụng trong
tượng nữ thần Athena-thần được thờ trong đền.
Về mặt hình ảnh, tỷ lệ vàng xuất hiện
dưới dạng đường xoắn ốc, còn được gọi là đường xoắn ốc Fibonacci hoặc đường
xoắn ốc vàng. Một đường xoắn ốc logarit phát triển theo hệ số của tỷ lệ vàng.
Nó bắt đầu với tập hợp các ô vuông, mỗi ô vuông tương ứng với 8 số liên tiếp
trong dãy và được xếp theo thứ tự như hình bên dưới. Sau đó, vẽ một cung tròn
từ góc của số nhỏ nhất đến góc số lớn nhất còn lại, để lộ ra một hình xoắn ốc
cân đối hoàn hảo.
Xét về mặt kiến trúc, tỷ lệ này thường
có dạng hình chữ nhật vàng – bất kỳ vật thể, công trình nào có thể chia thành
dạng hình vuông và hình chữ nhật đều có thể tạo ra tỷ lệ xấp xỉ bằng 1: 1,61.
Vì cả chiều dài và chiều rộng của những hình dạng ấy có thể chia theo tỷ lệ
vàng. Hơn nữa, theo lý thuyết cho rằng có thể tăng hoặc giảm tỷ lệ cấu trúc
trong khi vẫn duy trì được tỷ lệ vàng.
Nó được dùng để xác định các mối quan
hệ giữa chiều rộng và chiều cao của toà nhà, kích thước các chi tiết như mái
hiên, các cột, sân, bậc thang, … nhằm đưa đến kết quả mà chúng ta dễ dàng nhìn
thấy được là một ngôi nhà, công trình hài hoà, cân xứng,
=> Áp dụng quy tắc tỷ lệ vàng sẽ
giúp tạo cảm giác dễ chịu và tự nhiên hơn khi nhìn vào tác phẩm thiết kế của
bạn. Nó tạm hiểu là “sự hài lòng thị giác”.
Trong thiết kế nội thất:
Tỷ lệ vàng xuất hiện rất thường xuyên
trong phân chia bố cục không gian. Các kiến trúc sư thường sẽ chia một căn
phòng thành hai phần: Một phần lớn chiếm 2/3 diện tích và một phần còn lại nhỏ
hơn. Phần diện tích lớn sẽ chứa đồ nội thất chính của căn phòng, chịu trách
nhiệm làm nổi bật không gian. Phần nhỏ hơn đảm nhiệm mục đích sử dụng thứ cấp,
chẳng hạn như khu vực chỗ ngồi hoặc kho lưu trữ thay thế.
Tỷ lệ vàng cũng sẽ giúp bạn phối màu
sắc cho căn phòng một cách dễ dàng hơn. Ví dụ quy tắc 10-30-60 là một trong
những tỷ lệ vàng mà các kiến trúc sư áp dụng nhiều nhất khi sơn và trang trí.
Cụ thể, khi thiết kế nội thất, một không gian chỉ nên có 3 màu: 1 màu chủ đạo
chiếm 60% không gian (tường, sàn), 1 màu chiếm 30% không gian (nội thất), 1 màu
chiếm 10% không gian còn lại (trang trí nhỏ) nhằm tạo điểm nhấn cho ngôi nhà.
Một số công trình tiêu biểu trên thế giới áp dụng tỷ lệ
vàng trong kiến trúc
1. Công trình kiến trúc đền Parthenon
tại Hy Lạp
Nhìn vào phác thảo, chúng ta có thể dễ
dàng nhận ra các tỷ lệ xoay quanh một hình xoắn ốc với độ cao của tòa nhà
Parthenon là dựa trên tỷ lệ của hình chữ nhật Vàng. Chính nhờ vào sự trực quan
mà nó mang lại, công trình Parthenon mới đạt được sự hài hoà, cân đối, độc đáo
có một không hai trên thế giới.
2. Đền Taj Mahal tại Ấn Độ
Một trong 7 kỳ quan của thế giới, đền
thờ Taj Mahal cũng là ví dụ điển hình ứng dụng tỷ lệ vàng trong xây dựng. Khi
có tới 67,45% được căn chỉnh theo tỷ lệ vàng. Bức ảnh bên dưới cho thấy sự cân
xứng đến tuyệt đối của công trình.
3. Đại kim tự tháp Giza
Kim tự tháp Giza là một trong những ví
dụ về tỷ lệ Vàng lâu đời nhất trong kiến trúc (được xây trong khoảng thời gian
24 năm từ khoảng năm 2560 TCN). Trên thực tế, tỷ số Vàng xuất hiện trong toàn
bộ cấu trúc hình học của công trình này.
Ví dụ, nếu lấy tổng diện tích của bốn
mặt chia cho diện tích đáy, ta sẽ được 1,618. Một ví dụ khác: nếu lấy một mặt
cắt ngang của kim tự tháp để thấy được hai tam giác vuông. Cạnh huyền của một
tam giác, hay chiều dài từ đáy kim tự tháp đến đỉnh của nó sẽ là 186 m; khoảng
cách từ tâm của mặt đáy tới đỉnh là 115 m. Và nếu lấy 186 m chia cho cho 115 m
thì một lần nữa, kết quả lại là 1,618.
Bên cạch đó, tỷ lệ vàng còn được ứng
dụng rông rãi trong nhiều lĩnh vực sáng tạo khác, có thể kể đến như:
Leonardo da Vinci cũng đã minh họa mối
liên hệ giữa cơ thể người và tỷ lệ Vàng trong các bản phác thảo của ông, chẳng
hạn như bức “Vitruvian Man”. Ví dụ: Vòng xoắn vàng có thể được nhìn thấy trong
tai của con người; hoặc bàn tay so với cánh tay cũng theo tỷ lệ 1: 1,618. Ngay
cả các ngón tay cũng được tách ra theo một loạt các phần giảm dần, mỗi phần
tương ứng với Phi.
Hay bức tranh Mona Lisa nổi tiếng cũng
đã áp dụng tỷ lệ này
LINK PPT NHÓM:

1 comments
Bài viết rất bổ ích luôn
Trả lờiXóa