CÁI CHUNG & CÁI RIÊNG
Khái niệm
Phạm trù cái chung: dùng
để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau ở nhiều sự vật
hiện tượng hay quá trình riêng lẻ.
Phạm trù cái riêng: dùng
để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Phạm trù đơn nhất: tức
phạm trù dùng để chỉ những mặt, thuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất
định mà không lặp lại ở kết cấu khác.
Ví dụ: Xã hội là
cái chung - Xã hội nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản,
xã hội chủ nghĩa là cái riêng.
Mỗi con người là một cái riêng;
những thuộc tính tự nhiên và xã hội khiến cho con người khác với động vật giữ
vai trò là cái chung; nhưng mặt khác, ở mỗi con người lại có những thuộc tính
không lặp lại ở nhau như: cấu tạo gen, nhân cách, năng lực,… cụ thể khác nhau.
Mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
Cái chung và cái riêng
đều tồn tại và giữa chúng có sự thống nhất biện chứng. Cái chung chỉ tồn tại
trong cái riêng, thông qua cái riêng, tức là không có cái chung thuần túy, trừu
tượng, biệt lập bên cạnh cái riêng.
Ví dụ: “Con người
nói chung” không tồn tại tách rời, bên ngoài từng con người cụ thể, mà chỉ là
biểu hiện của sự tồn tại của mình thông qua từng con người cụ thể.
Không có con “động vật” chung tồn
tại bên cạnh con trâu, con bò, con gà cụ thể. Trong bất cứ con trâu, con bò,
con gà riêng lẻ nào cũng đều bao hàm trong nó thuộc tính chung của động vật, đó
là quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
Không có cái cây nói chung tồn tại
bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể. Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào...
nào cũng có rễ, có thân, có lá, có quá trình đồng hoá, dị hoá để duy trì sự
sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ,và được phản
ánh trong khái niệm "cây". Đó là cái chung của những cái cây cụ thể.
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Bất cứ sự vật nào cũng đều tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định và tham gia vào muôn vàn những mối liên hệ, tác động với những cái khác.
Ví dụ: Mỗi con
người là một “cái riêng”, nhưng con người ấy không thể tồn tại ngoài mối liên
hệ với với xã hội và tự nhiên. Không có cá nhân nào không chịu sự tác động của
các quy luật sinh học và quy luật xã hội.
Nền kinh tế của mỗi quốc gia có
những đặc điểm riêng phong phú là những cái riêng. Nhưng bất cứ nền kinh tế nào
cũng bị chi phối bởi các quy luật chung như quy luật quan hệ sản xuất phải phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật về
mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng v.v..
Cái chung là bộ phận của cái riêng. Cái riêng không gia nhập hết vào cái chung. Cái chung là cái sâu sắc hơn cái riêng, bởi vì nó phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, ổn định, phố biến tồn tại trong cái riêng cùng loại.
Ví dụ: Giai cấp
công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân thế giới.
Người nông dân Việt Nam bên cạnh
cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất
nông nghiệp, sống ở nông thôn v.v., còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của
văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên
của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó
khăn trong cuộc sống.
Cái chung và cái đơn nhất tồn tại ở trong cái riêng trong mỗi sự vật, hiện tượng. Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, ở những điều kiện nhất định, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cái đơn nhất trong quá trình phát triển sẽ dần dần mạnh lên trở thành cái phổ biến, cái chung. Ngược lại, cái chung từ chỗ là cái phổ biến dần thành cái đơn nhất.
Ví dụ: Tục nhuộm
răng đen trong xã hội phong kiến là cái chung phổ biến.
Sự thay đổi một đặc tính nào đấy
của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn ra bằng cách, ban đầu xuất
hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều kiện mới, đặc
tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá
thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành
cái đơn nhất
Ý nghĩa của phương pháp luận và liên hệ thực tiễn
Từ việc phát hiện mối quan
hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học Mác-Lênin nêu ra một số ý
nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy,
cụ thể là:
Chỉ có thể tìm cái chung
trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ,
không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì
cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn
tại của mình.
Cái chung là cái sâu sắc,
cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và
trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Trong
hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết
lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù
quáng.
Trong quá trình phát
triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định "cái đơn nhất" có
thể biến thành "cái chung" và ngược lại "cái chung" có thể
biến thành "cái đơn nhất", nên trong hoạt động thực tiễn có thể và
cần phải tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con
người trở thành "cái chung" và "cái chung" bất lợi trở
thành "cái đơn nhất".
Trong Bút ký Triết học,
Lênin viết
“Người nào bắt tay vào
những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước
đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự
giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa
là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và
mất đi hẳn tính nguyên tắc.”
Ví dụ: Từ các
nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các
nguyên lý đó vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam

1 comments
Gút chóp
Trả lờiXóa